Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Trình bày cơ sở lý thuyết Chương 3. Phương pháp nghiên cứu khoa học.
Kết quả và bàn luận. Kết luận và kiến nghi. Các khái niệm Cấu trúc của da Da che phủ toàn bộ cơ thể và bảo vệ cơ thể với môi trường tự nhiên, bề mặt da của người trưởng thành khoảng 1,6 m2. Độ dày của da cũng thay đổi tùy theo độ tuổi, giới tính và tùy vị trí.
Da được cấu tạo gồm một khối tổng hợp được chia thành ba lớp chính: Lớp thượng bì, lớp trung bì và lớp hạ bì. Các phần phụ khác, như tóc, móng và các tuyến, cũng được tìm thấy trong da. Da có tính chất đàn hồi có thể co giãn về nhiều phía, có tính chất nhớt, tính chất tạo hình, cùng các lớp biểu mô, cũng như các mô liên kết, các tuyến, lông và nang lông, thớ cơ, và là điểm tận cùng các dây thần kinh, hệ thống mạch máu và bạch mạch. Các tế bào da luôn được thay thế mới hoàn toàn trong vòng 4-6 tuần lễ, do vậy da là một trong các loại mô tế bào sinh trưởng rất nhanh của cơ thể con người.1 Cấu trúc của da Nguồn: placencare.vn 6 Lớp biểu bì (Epidermis): Là lớp bên ngoài cùng của da con người, thường dày từ 0.8 mm, gần như trong suốt, những những nơi có lớp da dày thường gồm sáu lớp tế bào nhưng ở những vùng da mỏng nhất cũng có ít nhất hai lớp tế bào là lớp mầm và lớp phủ ngoài sừng hóa.2 Cấu tạo của nơi da dày ( Nguồn: Mô phôi đại cương NXB YHHN) Hình 2.3 Cấu tạo của nơi da mỏng ( Nguồn: Mô phôi đại cương NXB YHHN) 7 Lớp biểu bì gồm có năm lớp: Lớp tế bào sừng: lớp sừng là lớp tế bào ngoài cùng chúng gồm các tế bào dẹt không chứa nhân và cấu tạo toàn bộ là chất sừng càng gần bề mặt da thì các tế bào này không dính chặt vào nhau nữa và dần dần bong tróc ra, các tế bào bị tróc ra này quyện với mồ hôi và chất bã tạo thành chất bẫn trên bề mặt da mà khi kỳ cọ chúng ta có cảm giác cộm trong lòng bàn tay.
Lớp bóng: chỉ có ở những vùng da dày, tế bào thì dẹt và sáng lóng lánh không có nhân gồm có hai đến ba lớp tế bào. Lớp hạt gồm có ba lớp tế bào hình thoi dẹt, tế bào có nhân và nhân của lớp tế bào hạt sáng hơn và có hiện tượng đang chuyển biến, chuyển hóa. Lớp gai còn gọi là lớp Malpighi đây là lớp dày nhất của da bao gồm những tế bào lớn hơn có cấu tạo bề ngoài giống hình đa giác, khi tế bào này phát triển lớn hơn càng lên phía bề mặt da càng dẹt dần các tế bào này hình thành một lớp mềm như lớp màng nhày vì thế lớp này còn được gọi là lớp nhày.4 Cấu tạo lớp gai ( Nguồn: Mô phôi đại cương NXB YHHN) 8 Lớp đáy: là lớp sâu nhất gồm một lớp tế bào có dạng hình trụ đứng sát vào nhau tạo thành hàng rào và nhân tế bào nằm ở giữa lớp tế bào lớp này là lớp cơ bản lớp này có vai trò sản sinh những tế bào mới để thay những tế bào đã già, hết chức năng. Bên cạnh các phần chính ở trên, một số phần của da như nang lông, tuyến mồ hôi, tuyến bả, răng, móng và tuyến ngoại tiết, là phần phụ của da nằm trong biểu bì.
Con người có thể tồn tại trong môi trường và chống lại tất cả những ảnh hưởng có hại của môi trường bên ngoài và ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn vào cơ thể là nhờ vào chức năng bảo vệ của lớp biểu bì, Các sắc tố melanin cũng thuộc lớp biểu bì các sắc tố này có vai trò trong việc biểu hiện đặc trưng màu sắc của da cũng như ngăn chặn các tia cực tím tác động đến làn da, ngoài ra lớp biểu bì còn có vai trò rất quan trong trong việc tổng hợp các vitamin D khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trước chin giờ ba mươi phút buổi sáng. Lớp trung bì (Dermis): Được ngăn cách với lớp biểu bì của da bằng lớp cơ bản được gọi là màng đáy, lớp trung bì được cấu tạo bắt đầu bằng lớp rất mỏng khoảng 1/ 10 mm, trên bề mặt lớp này là các gai hình nón nổi lên ăn sâu vào trong lòng biểu bì nên còn gọi là nhú bì hay là gai bì. Ở lớp trung bì có rất nhiều đầu mút của các sợi thần kinh và cũng có rất nhiều mạch máu nhỏ làm nhiệm vụ nuôi dưỡng cho vùng da. Lớp trung bì chính thức có nhiệm vụ nâng đỡ, chống lại các va chạm bên ngoài, lớp này dày khoảng 0,4 mm bao gồm các mạch máu nhỏ tập trung ở gai bì, các tuyến mồ hôi, các tuyến thần kinh, , tuyến bã và nang lông.
Lớp trung bì là một lớp xơ chắc, được tạo thành từ các tế bào liên kết, bó sợi liên kết, các chất gian bào, cơ dựng long, các tuyến ống và nang lông, mạch máu, và thần kinh. lớp trung bì thường dày hơn lớp biểu bì từ 15 đến 40 lần. Tế bào đặc trưng của lớp trung bì là các nguyên bào sợi, tế bào collagen còn gọi là chất tạo keo chiếm 77% trọng lượng lớp trung bì. 9 Trung bì có chức năng nuôi biểu bì thông qua lớp nhú, là cơ quan bài tiết chất nhờn, mồ hôi, và đào thải chất bã, các chất độc, ngoài ra còn có chức năng điều chỉnh thân nhiệt, cũng là cơ quan nhận cảm giác và đặc biệt có tính mềm dẻo, tính đàn hồi, hồi phục vị trí và hình dáng trong và sau khi cử động làm da không bị nhăn, ngoài chức năng bài tiết lớp trung bì còn hấp thu một số hóa chất, thuốc qua chân lông và ống tuyến, tái tạo mô hạt giúp vết thương mau lành, và lớp trung bì còn tạo ra các loại men và chất chế tiết, đáp ứng các phản ứng viêm cũng như các phản ứng dị ứng gọi chung là là hàng rào sinh học.
Lớp hạ bì (Hypodermis): phía dưới trung bì là hạ bì, bao gồm mô liên kết mỡ và các phần phụ của biểu bì như mạng lưới mach máu, thần kinh, gốc lông và tuyến mồ hôi đều xuất phát từ hạ bì, lớp hạ bì dày từ 0.25cm đến 1cm. Không phải vị trí nào của da cũng có lớp hạ bì, một số vùng không có lớp hạ bì thường là lớp da mỏng như da vùng vành tai, mi mắt, cánh mũi, viền môi, nơi tiếp nối da móng tay, móng chân, da bìu, da vùng đầu dương vật, da vùng viền hậu mô. Vùng bụng, mông có lớp hạ bì, lớp hạ bì có nhiều ảnh hưởng đến thẩm mỹ hình dáng của cơ thể. Chức năng của da Da có rất nhiều chức năng như bảo vệ, là cơ quan điều nhiệt, kết hợp với ánh nắng cung cấp vitamin D cho cơ thể… và là hàng rào ngăn cản vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể.
Các chức năng cụ thể là: Hình 2.5 Cấu trúc sợi collagen Nguồn: www.com 10 Biểu bì là lớp bảo vệ chống lại các áp lực, sự cọ sát, và sự mài mòn của các tác động bên ngoài cơ thể lên da. Mô mỡ dưới da tạo thành lớp đệm giúp làm giảm tác động của sự va đập va chạm, đảm bảo các mô bên dưới được bảo vệ. Lớp sừng sẽ dày lên khi da tiếp xúc nhiều lần trên cùng một vị trí với các lực bên ngoài cơ thể, ví dụ như cục chai ở chân. Da có chức năng miễn dịch thể và miễn dịch tế bào, khi có các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể qua da, da sản xuất ra tế bào có thể bắt giữ kháng nguyên, xử lý và trình diện kháng nguyên này với tế bào lympho T, đồng thời các yếu tố sinh học hòa tan cũng góp phần thúc đẩy cơ chế miễn dịch này.
Bản thân tế bào sừng cũng có tham gia vào miễn dịch, nó tiết ra interferon (Trần Đăng Quyết). Một số chất hóa học như màng hydrolipid và axit bảo vệ có chức năng trung hòa với hóa chất có tính kiềm gây hại cho da, lớp sừng của da cùng với các axit có chức năng bảo vệ cơ thể khỏi các loại vi khuẩn và nấm, hệ thống miễn dịch của da sẽ khởi động khi các tác nhân gây hại cho cơ thể xâm nhập qua khỏi hàng rào bảo vệ đầu tiên. Da là cơ quan điều chỉnh nhiệt độ: khi nhiệt độ bên ngoài cơ thể cao, da đổ mồ hôi giúp làm mát cơ thể và làm co các mạch máu ở lớp hạ bì để giữ nhiệt khi nhiệt độ bên ngoài cơ thể xuống thấp. Da cũng là cơ quan kiểm soát cảm xúc, da rất nhạy cảm với va chạm, chấn đông, áp lực, đau và nhiệt độ nhờ các đầu tận cùng của các dây thần kinh.
Khả năng tái tạo và hồi phục của da nhở hệ thống tế bào mỡ, tế bào chất béo dưới da cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình này, khi có tổn thương các chất này sẽ được hệ thống mạch máu cung cấp đến nơi bị tổn thương. Vết thương Khái niệm Vết thương được phân loại theo hình dáng của tổn thương đó là vết thương có các đường rạch ngay thằng như các vết cắt, các đường rách không ngay thẳng như các vết rách da và các phần trầy xước mất diện tích da. 11 Vết cắt: thông thường do một vật sắc gây tổn thương sự liền lạc của da như dùng dao rạch da khi phẩu thuật, có thể gây chảy máu nhiều nếu các mạch máu nằm bên dưới cũng bị cắt đứt, nếu vết cắt sâu thì các dây thần kinh, gân, cơ và xương cũng có thể bị tổn thương. Vết rách: Thông thường xuất hiện sau chấn thương gây rách da, bề mặt của vùng ta tổn thương thường không thẳng, rìa vết thương nham nhõ, không gọn gang và không thẳng như vết cắt.
Vết trầy: Thông thường tổn thương gây nên do bề mặt da bị cọ sát, bào mòn các vùng thường gặp các tổn thương này là vùng bên trên các đầu xương như mắt cá chân, khuỷu tay, đầu gối, cẳng chân. Quá trình lành vết thương Quá trình lành thương: Lành thương là một quá trình trải qua nhiều giai đoan, xảy ra ngay từ khi bị tổn thương và chia làm 3 giai đoạn chính xảy ra xen kẽ lẫn nhau: giai đoạn viêm, giai đoạn tăng sinh tái tạo, và cuối cùng là giai đoạn tạo sẹo. Giai đoạn viêm: Hai loai phản ứng tại chỗ sẽ xuất hiện ngay lập tức đó là phản ứng mạch máu và phản ứng viêm ngay sau tổn thương da như rạch da, bỏng, lóc da, rách da, trượt da.