Chương 1: Lý luận cơ bản về tín dụng, hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Nam giai đoạn 2008–2012. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Lý luận cơ bản về tín dụng 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (NH và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.[3] Tín dụng NH là việc NH thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ khác. Bản chất của tín dụng[3] Tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có những đặc trưng sau: Tài khoản giao dịch trong quan hệ tín dụng NH bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trong những năm 1960 trở về trước hoạt động tín dụng của NH chỉ có cho vay bằng tiền.
Xuất phát từ đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho vay được coi là đồng nghĩa với nhau. Từ những năm 1970 trở lại đây, cho thuê vận hành là cho thuê tài chính đã được các NH hoặc các định chế tài chính khác cung cấp cho KH. Đây là một sản phẩm kinh doanh của NH, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực (nhà ở, văn phòng làm việc, máy móc – thiết bị). Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 đúng hạn.
Đây là một yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong thực tế một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về KH mà lại chú trọng đến các đảm bảo. Chính quan điểm này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Cần lưu ý rằng các bậc tiền bối đã bằng từ “credo” hoặc “tín” để đặt tên cho “credit” hoặc tín dụng không phải là vấn đề ngẫu nhiên.
Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Để thực hiện nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi suất thực dương (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát). Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, nên trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn. Trong quan hệ tín dụng NH, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện.
Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước… thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Chức năng của tín dụng [2] Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ: Nhờ sự hoạt động của hệ thống tín dụng mà các số tiền nhàn rỗi trong công chúng và tổ chức được tập trung lại, bao gồm tiền nhàn rỗi của dân chúng, vốn bằng tiền của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền của các tổ chức, đoàn thể xã hội… Đây là sự chuyển hóa để sử dụng các nguồn vốn đã tập trung được để đáp ứng nhu cầu của sản xuất lưu thông hàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội. Nhờ chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng, mà phần lớn nguồn tiền trong xã hội từ chổ là tiền nhàn rỗi một cách tương đối đã được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 huy động và sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và đời sống, làm cho hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội tăng. Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội: Hoạt động tín dụng tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu, các loại séc, các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán… Cho phép thay thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành, nhờ đó làm giảm bớt chi phí có liên quan như in tiền, đúc tiền, vận chuyển, bảo quản tiền… Phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế: Sự lưu động của vốn tín dụng phần lớn là sự lưu động gắn liền với sự lưu động của vật tư hàng hóa, chi phí trong các xí nghiệp, các tổ chức kinh tế, vì vậy, qua đó tín dụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn thông qua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động đó nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực lãng phí, vi phạm pháp luật,… trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Vai trò của tín dụng [12] 1. Đối với nền kinh tế Thứ nhất, vai trò kinh tế cơ bản của tín dụng NH là luân chuyển vốn từ những người (cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư (do chi tiêu ít hơn thu nhập) đến những người thiếu hụt (do nhu cầu chi tiêu vượt quá thu nhập). Nhu cầu vay vốn không chỉ để đầu tư kinh doanh mà còn dùng để thỏa mãn những nhu cầu tiêu dùng trước mắt. Tại sao việc luân chuyển vốn từ người tiết kiệm sang người sử dụng vốn lại quan trọng với nền kinh tế? Câu trả lời là vì, những người tiết kiệm thường không đồng thời là những người có cơ hội đầu tư sinh lời cao.
Như vậy, nếu không có NH, thì việc luân chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế sẽ ách tắt. Chính vì vậy, kênh luân chuyển vốn qua NH có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tính hiệu quả của nền kinh tế. Thứ hai, tín dụng NH không giới hạn chỉ trong chức năng truyền thống là luân chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu mà còn giúp phân bổ hiệu quả các nguồn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 lực tài chính trong nền kinh tế. Thông qua tín dụng NH mà vốn từ những người thiếu các dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có các dự án đầu tư hiệu quả hơn nhưng thiếu vốn.
Kết quả là, kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm, và năng suất lao động cao. Thứ ba, thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào những ngành, nghề, khu vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành, nghề đó, hình thành nên cơ cấu hiện đại, hợp lý và hiệu quả. Thứ tư, tín dụng NH góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường, kiểm soát giá trị đồng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước. Thứ năm, tín dụng NH mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác đầu tư vốn của chính phủ.
Thứ sáu, tín dụng NH là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội. Đối với khách hàng Thứ nhất, tín dụng NH đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho KH. Với các ưu điểm như an toàn, thuận tiện và nhanh chóng, dễ tiếp cận và có khả năng đáp ứng được nhu cầu vốn lớn, tín dụng NH thỏa mãn được nhu cầu đa dạng của KH. Thứ hai, tín dụng NH giúp nhà đầu tư nắm bắt được những cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, các cá nhân có đủ khả năng tài chính để trang trải cho các khoản chi tiêu nâng cao chất lượng đời sống,… Thứ ba, tín dụng NH ràng buộc trách nhiệm KH phải hoàn trả vốn gốc và lãi trong thời gian nhất định như thỏa thuận.
Do đó, buộc KH phải nổ lực, tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho NH. Đối với ngân hàng Thứ nhất, tín dụng là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho NH (từ 70 đến 90%). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Mặc dù tỷ trọng của hoạt động tín dụng đang có xu hướng giảm, nhưng tín dụng NH vẫn luôn là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất đối với mỗi NH. Thứ hai, thông qua hoạt động tín dụng mà NH đa dạng hóa được danh mục tài sản có, giảm thiểu rủi ro.
Thứ ba, thông qua hoạt động tín dụng, NH mở rộng được loại hình dịch vụ khác, như thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn… 1. Phân loại tín dụng Kinh tế thị trường càng phát triển, xu hướng tự do hóa càng sâu sắc thì các NH càng phải nghiên cứu đưa ra các hình thức tín dụng đa dạng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của KH, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư, thu hút KH, tăng lợi nhuận, thực hiện phân tán rủi ro và đứng vững trong cạnh tranh. Chính vì vậy, NH cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng KH với những mục đích sử dụng khác nhau. Để tránh nhầm lẫn và có cái nhìn tổng quát về các loại hình tín dụng, người ta phân loại tín dụng theo một số tiêu chí sau: 1.