Chương 1: là phan giới thiệu về đề tai. Chương 2: là chương tổng quan, giới thiệu tổng quát về vấn đề và địa bàn nghiên cứu. Chương 3: là phần nội dung cơ sở lý luận, trình bày các khái niệm, các chỉ tiêu được sử dụng nghiên cứu và hệ thống các phương pháp nghiên cứu liên quan đến dé tài. Chương 4: là nội dung nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động kinh doanh, tình hình cho vay, thu hồi nợ của Ngân hàng, phương thức sản xuất kinh doanh của nông hộ, hiệu quả từ các hoạt động này mang lại.
Một số ý kiến để xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và kiện toàn bộ máy hoạt động tại Ngân hàng. Chương 5: là chương kết luận, từ những vấn đề nghiên cứu ở trên, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vôn của nông hộ. CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN Tài liệu nghiên cứu tổng quan để trình bày cho khóa luận này được thu thập từ Phòng Thống Kê Huyện Cần Giuộc, Phòng Tín Dụng của NHNo&PTNT Cần Giuộc, Ủy Ban Nhân Dân Xã Trường Bình và Phước Vĩnh Đông. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 2.
Vi trí địa lý Cần Giuộc là một huyện nằm ở phía Đông Nam của Tỉnh Long An: phía Đông giáp Huyện Nhà Bè và Huyện Cần Giờ-Thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp Huyện Bến Lức-Long An, phía Nam và Tây Nam giáp Huyện Cần Đước-Long An và phía Bắc giáp Huyện Bình Chánh-Thành phố Hồ Chí Minh. Cần Giuộc nằm ở vành đai vòng ngoài của vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, là cửa ngõ của Thành phố Hồ Chí Minh tới các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long qua quốc lộ 50, từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp và hệ thông đường thủy thông thương với các tỉnh phía Nam. - Lợi thế: Rất thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa trong và ngoài nước, có điều kiện thu hút các nguồn tiết kiệm từ bên ngoài tham gia đầu tư vào địa bàn, có điều kiện tiếp thu nhanh vá ứng dụng tốt khoa học kỹ thuật. - Hạn chế: Chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thu hút vốn đầu tư, chất xám và lao động có tay nghề.
Nam cận biển, đất thấp và tính chất cơ lý yếu nên đầu tư xây dựng chỉ phí ban đầu cao. Thời tiết- Khí hậu - Huyện có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 26,7°C, độ ẩm trung bình năm là 82%. - Một năm chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa nang từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau. Số giờ nắng là 7,2 giờ/ngày, bình quân năm từ 1.
Gió thôi theo hướng Đông Nam từ tháng 11 đến tháng 4, theo hướng Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 10. Thủy lợi Hệ thống sông rạch huyện Cần Giuộc khá chang chit và nhất là sông Rạch Cát và sông Nhà Bè nên quy mô nguồn nước mặt khá lớn. Hệ thống đê bao, cống đập thời vụ cơ bản được thi công dam bao đã góp phần giảm tiêu úng, xổ phèn, ngăn mặn, giữ ngọt tại chỗ để phát triển sản xuất và đời sống dân cư. Địa hình- Thé nhưỡng Địa hình của huyện thấp và bằng phẳng, mang đặc trưng chung của Đồng bằng Sông Cửu Long.
Sông Cần Giuộc chia huyện thành hai vùng rõ rệt: vùng Hạ có địa hình thấp và vùng Thượng có địa hình tương đối cao hơn. Cao độ so với mặt biển là 0,5- 0,8mét. Thổ nhưỡng được chia thành 4 nhóm đất chính: + Nhóm đất phù sa ngọt chiếm 34,45% diện tích tự nhiên chủ yếu ở các xã Phước Lý, Phước Hậu, Trường Bình, Phước Lâm, Mỹ Lộc. Tân Kim và Thị trấn Cần Giuộc, Đất có dinh dưỡng khá, thích hợp cho cây lúa, rau màu và hoa quả.
+ Nhóm đất phù sa nhiễm mặn chiếm 17,4% diện tích tự nhiên, bao gồm các xã Phước Lại, Tân Kim, Long Hậu, đất có đinh dưỡng khá và thích hợp với cây lúa. + Nhóm đất phèn không nhiễm mặn chiếm 5,4% diện tích tự nhiên bao gồm các xã Thuận Thành, Long An, Trường Bình. Đất này thích nghi với cây lúa. + Nhóm dat phèn nhiễm mặn chiếm 31,6% diện tích tự nhiên bao gồm các xã Long Hậu, Phước Lại, Phước Vĩnh Đông, Tân Tập, Long Phụng, Đông Thạnh.
Đất này thích hợp đề phát triển thủy sản. Diện tích- Dân số- Lao động Theo báo cáo tổng hợp của Phòng Kinh Tế Huyện Cần Giuộc, GDP bình quân trên người(GDP/người) trên địa bàn huyện năm 2006 đạt 650 USD theo giá so sánh năm 1994, nhịp độ tăng trưởng kinh tế tính theo GDP tăng bình quân là 9,4% năm. Tổng diện tích dat tự nhiên của huyện khoảng 210 km’, trong đó, Trường Bình gần 10 km” và Phước Vĩnh Đông là 17 km”. Dân số trung bình là 165.498 người với dan tộc chủ yếu là Kinh.
Dân số thành thị là 11.762 người, dan số nông thôn là 153.736 người chiếm 92,8%. Mật độ dân số năm 2005 là 780 người/km”, năm 2006 là 788 người/km”. Theo báo cáo của huyện, tính đến tháng 1/06/2006, dân số trong độ tuôi lao động là 87.347 người chiếm 52,8% dân số toàn huyện. Trong đó, dân số làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp là 55.788 người chiếm 63,87%, khu vực phi nông nghiệp là 36,13%.
Huyện có cơ cấu dân số trẻ, lực lượng lao động có thể lực tốt nhưng chất lượng còn hơi thấp, chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm 5,53% dưới mức trung bình của tỉnh là 11%. Cơ sở ha tang của Huyện Tính đến hết ngày 31/12/2006, Huyện có khoảng 18 km đường Quốc lộ đi qua. Đường huyện là 255 km trong đó đường loại tốt là 29 km chiếm 11%, đường loại xấu là 19 km chiếm 7%, phần lớn là đường lọai trung bình chiếm 82% trong tổng km đường của Huyện.
Toàn huyện có 56 trường học với số giáo viên là 617 người trong đó giáo viên cấp I là 332 người, cấp II là 174 người, cấp III là 111 người. Trong Huyện có 1 bệnh viện đa khoa với số bác sĩ là 50 người, y sĩ, được sĩ, y ta, dược tá, kỹ thuật viên là 186 người. Trạm y tế, điểm bưu điện đều có ở L7 xã trong Huyện cũng như mạng lưới điện đã có trong toàn Huyện. Thu — Chỉ ngân sách của Huyện Huyện Cần Giuộc nằm tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh nên có nhiều điều kiện để phát triển do đó ngân sách thu vào của huyện năm 2006 đã tăng 2.971 triệu đồng so với năm 2005 cụ thể: năm 2005 tổng thu ngân sách là 40.699 triệu đồng, năm 2006 tổng thu ngân sách là 43.670 triệu đồng trong đó thu trên địa bàn huyện là 21.512 triệu đồng chiếm 48%, thu bổ sung ngân sách cấp trên là 13.796 triệu đồng chiếm 32%, thu kết dư năm trước và các khoản thu đóng góp chiếm 20% trong tổng thu ngân sách của huyện.
Chi ngân sách của huyện năm 2006 đã giảm 4. Năm 2005 chỉ ngân sách của huyện là 27.778 triệu đồng, năm 2006 chi ngân sách của huyện là 22.917 triệu đồng chủ yếu là chỉ cho đầu tư phát triển 11.048 triệu đồng chiếm 48%, chi cho thường xuyên là 8.380 chiếm 37%, còn lại là chi cho dự phòng và chi bổ sung ngân sách xã là 15%. Tình hình sử dụng đất trên địa bàn Huyện Bang 2. Tình Hình Sir Dụng Đất ở Huyện Tính Đến 1/01/2006 Dvt: ha —= 2004 2005 2005/2004 ` ° Số lượng % Số lượng % A % Tổng số 21033 100,00 21.
Dat chuyén ding 733 3,48 1. Đất chưa sử dụng 2.204 10,48 2147 10,23 -57 -2,59 Nguồn tin: Niên Giám Thông Kê Huyện Cân Giuộc năm 2006 Nhìn vào bảng trên ta thấy diện tích đất năm 2005 giảm 32 ha so với năm 2004 là do mai một của tự nhiên. Năm 2005 diện tích đất nông nghiệp cũng giảm 1.194 ha tương ứng 7,22% so với năm 2004, đất chưa sử dụng cũng giảm 2,59% so với năm 2004 nhưng đây chính là tín hiệu đáng mừng. Năm 2005 thì đất chuyên dùng và đất ở đã tăng lên rõ rệt cụ thể là đất ở tăng 72,34%, đất chuyên dùng tăng 54,64% so với năm 2004.
Tuy năm 2005 diện tích đất nông nghiệp có giảm nhưng nó vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng diện tích đất của huyện thé hiện ở hình sau: Hình 2. Biểu Đồ Tỷ Lệ Sử Dụng Dat của Huyện Năm 2006 10% Ẩ D Dat nông nghiệp là a= fe} B Dat chuyên dùng z O pat ở 73% C Dat chưa sử dung a Nguồn tin: Niên Giám Thống Kê Huyện Cần Giuộc năm 2006 Với hình trên ta thấy đất nông nghiệp đã chiếm 73% trong tổng diện tích đất của huyện, đất chuyên dùng chỉ có 6% thấp hơn cả đất chưa sử dụng cho nên thu nhập chính của người đân ở huyện vẫn là thu nhập từ nông nghiệp. Đặc điểm tình hình sản xuất nông nghiệp của Huyện Trong những năm gần đây huyện có tốc độ ĐTH-CNH tương đối cao, tỷ trọng trong các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng cao thay thế dần cho ngành nông nghiệp. Tốc độ tăng này chiếm 25% giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.
Theo dự báo trong giai đoạn từ nay đến 2010 tỷ trọng của ngành nông — lâm — ngư nghiệp trong huyện vẫn chiếm vị trí hàng đầu. Trong đó ngành trồng trọt (trồng lúa, trồng hoa màu) và chăn nuôi, NTTS vẫn là ngành sản xuất chủ đạo tại địa phương và tác động trong nông nghiệp chiếm một tỷ trọng khá cao là 75,15%. Theo báo cáo tổng hợp của huyện và số liệu từ NGTK huyện Cần Giuộc 2006 thì giá trị tổng sản lượng nông nghiệp ước tính đạt gần 1.406 triệu đồng, trong đó trồng trọt chiếm 661.425 triệu đồng và chăn nuôi là 241.248 triệu đồng, thủy sản là 451. Thể hiện cụ thể qua hình sau: Hình 2.
Biểu Đồ Thể Hiện Tỷ Lệ Sản Lượng Trong Nông Nghiệp cia Huyện Năm 2006 33% 49% Trdng trọt @ Chan muôi O Thủy sản 18% Nguồn tin: Niên Giám Thống Kê Huyện Can Giuộc năm 2006 Nhìn vào hình trên ta thấy: trong tổng sản lượng NN thi trồng trọt chiếm tỷ lệ cao nhất là 49%, thủy sản đứng ở vi trí thứ 2 chiếm 33%, còn lại là chăn nuôi chiếm 18% trong tổng sản lượng NN của huyện năm 2006. Ngành trồng trọt Lúa là cây trồng chính có vai trò quan trọng trong nền kinh tế chiếm 69,72% diện tích đất nông nghiệp của toàn huyện. Năm 2006, diện tích gieo trồng lúa đạt 14.465,16 ha, trong đó vụ Đông Xuân là 6.249,16 ha, vụ Hè Thu là 4.833 ha, lúa mùa là 3. Tổng sản lượng lúa đạt 47.
Trong những năm gần đây năng suất lúa có xu hướng tăng bình quân là 15-19% so với giai đọan nam 1999-2002.