Mở đầu Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí luận Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ của nguồn ngôn ngữ đánh giá tình cảm nhân vật chính trong truyện ngắn tiếng Anh và tiếng Việt Chương 4: Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của nguồn ngôn ngữ đánh giá tình cảm nhân vật chính trong truyện ngắn tiếng Anh và tiếng Việt Chương 5: Kết luận 6 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Chương này tìm hiểu những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vận dụng lí thuyết ngôn ngữ đánh giá vào phân tích truyện ngắn qua phần tổng quan nghiên cứu và giới thiệu một số luận điểm cơ bản qua phần cơ sở lí luận làm nền tảng cho việc miêu tả và đối chiếu của luận văn. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.1 Nghiên cứu ngoài nƣớc về vận dụng lí thuyết ngôn ngữ đánh giá Việc vận dụng LTNNĐG vào phân tích đặc điểm các BDNNĐG như Thái độ (attitude), Thang độ (graduation), Tham gia (engagement) trong các thể loại văn bản viết và nói khác nhau đã được thực hiện trong nhiều năm qua tại nước ngoài. Điển hình là những nghiên cứu việc sử dụng NNĐG trong các bài văn nghị luận, báo cáo khoa học (Hood, 2004, 2006, 2010; Hao & Humphrey, 2012), sách giáo khoa lịch sử (Coffin, 2010) hoặc Painter (2003) vận dụng tìm hiểu trong tác phẩm văn học (thể loại tự sự). Ngoài việc phân tích các văn bản viết, một số tác giả còn phân tích các văn bản nói như Eggins & Slade (1997); Eggins (2000); Hood & Forey (2008).
Bên cạnh những bài phân tích các thể loại văn bản tiếng Anh được người bản ngữ viết, một số tác giả nước ngoài và người Việt Nam học tập, nghiên cứu tại nước ngoài cộng tác với người bản ngữ đã công bố một số bài báo hoặc nghiên cứu về phân tích NNĐG. Xinghua & Thompson (2009); Yang (2016) đã có một số bài báo phân tích ngôn ngữ đánh giá trong các bài viết học thuật bằng tiếng Anh của sinh viên Trung Quốc. Luận án (LA) tóm tắt của Võ Duy Đức (2011) tại Úc đã tóm tắt nghiên cứu việc sử dụng NNNĐG thể hiện giọng điệu của các nhà báo trong các bản tin cứng về kinh doanh. Ngo & Unsworth (2015) đã phân tích trên tư liệu hội thoại giữa một nhóm sinh viên về việc trải nghiệm cuộc sống và học tập ở Úc và quan điểm của họ với các vị trí công việc ở Việt nam, tập trung vào hai phạm trù thái độ và thang độ.
Số liệu từ luận án cho thấy khoảng cách khá lớn về khả năng sử dụng ngôn ngữ đánh giá bằng tiếng Anh so với tiếng Việt trong giao tiếp của các sinh viên tham gia nghiên cứu. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu cũng đã đối chiếu việc sử dụng các BDNNĐG trong một số thể loại văn bản bằng tiếng Anh và các ngôn ngữ khác như tiếng Trung Quốc và tiếng Anh Xinghua & Thompson (2009), tiếng Anh và tiếng Việt của Ngô Thị Bích Thu (2015). 7 Nói chung, những nghiên cứu ngoài nước phân tích khá sâu về việc sử dụng ngôn ngữ đánh giá trong các thể loại văn bản nói, viết khác nhau và thực hiện việc đối chiếu ở một số ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên việc nghiên cứu, vận dụng LTNNĐG vào việc đối chiếu truyện ngắn tiếng Anh và tiếng Việt vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ tại nước ngoài.2 Nghiên cứu trong nƣớc về vận dụng lí thuyết ngôn ngữ đánh giá.
Cho đến nay việc vận dụng LTNNĐG vào việc phân tích các thể loại văn bản trong tiếng Việt và đối chiếu tiếng Việt và tiếng Anh vẫn chưa được công bố một cách đầy đủ. Đa số là những luận án viết bằng tiếng Việt, luận văn thạc sĩ viết bằng tiếng Anh phân tích, đối chiếu các thể loại báo chí, quảng cáo, … bằng tiếng Anh và tiếng Việt tại một số trường đại học ở Việt Nam. Nguyễn Hồng Sao (2010) đã có LA tiến sĩ nghiên cứu việc sử dụng sử dụng bộ công cụ đánh giá làm công cụ đo lường trong cấu trúc thể loại và ngôn ngữ thông tin quốc tế. LA đã liệt kê các ví dụ ngôn ngữ đánh giá được sử dụng trong văn bản và qui nó vào phạm trù nhằm đưa ra những nhận xét về mặt nội dung, ý nghĩa của văn bản.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đầu nghiên cứu việc sử dụng bộ công cụ đánh giá làm cơ sở phân tích ngôn ngữ báo chí qua bình diện nghĩa liên nhân ở 2 thể loại cơ bản của báo tiếng Việt và tiếng Anh. Hạn chế của công trình này là chưa hệ thống và nêu lên được các biện pháp mà ngôn ngữ đánh giá được sử dụng trong hai thể loại báo nêu trên trong tiếng Việt và tiếng Anh. Luận văn (LV) thạc sĩ của Lê Thị Hà (2014) đã nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ đánh giá trong những bức thư tình bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Huỳnh Trân Thuận (2014) cũng đã miêu tả và đối chiếu bình diện đánh giá thẩm mĩ trong các bình luận bóng đá bằng tiếng Anh và tiếng Việt.
Hồ Thị Thu (2015) đã tìm hiểu những từ vựng biểu hiện đánh giá tình cảm trong các diễn văn chính trị của tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Phạm Thị Thúy Ngọc (2017) đã phân tích đặc điểm ngôn ngữ đánh giá tình cảm trong các quảng cáo sản phẩm bằng tiếng Anh. Đặng Thị Ngọc Thương (2017) cũng đã nghiên cứu việc sử dụng bình diện tham gia đánh giá trong những diễn văn trình bày trước nhân dân Mỹ của bà Michelle Obama. Ngoài ra còn có một số bài báo đăng trong các hội nghị khoa học ở trong nước cũng có đề cập việc sử dụng NNĐG trong trong các thể loại khác nhau.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu miêu tả và đối chiếu về ngôn ngữ đánh giá đã được công bố hoặc chưa công bố trong nước (dưới dạng LV hoặc LA) đã đi sâu vào 8 một số thể loại văn bản nhưng chưa có công trình tiêu biểu nào nghiên cứu đối chiếu việc sử dụng ngôn ngữ đánh giá trong truyện ngắn tiếng Anh và tiếng Việt. Chính vì vậy việc thực hiện một đề tài nghiên cứu đối chiếu trong lĩnh vực này là thực sự cần thiết.Định nghĩa khái niệm “đánh giá” Theo Martin & Rose (2003), đánh giá (evaluation) hay thẩm định (appraisal) là một hệ thống nghĩa liên nhân. Nguồn ngôn ngữ đánh giá được người nói/người viết (gọi tắt là người nói) sử dụng để trao đổi quan hệ xã hội, để bày tỏ thái độ, lập trường, quan điểm chủ quan của họ đối với nội dung được trình bày trong văn bản và đối với những người tham gia giao tiếp với họ. Nó liên quan đến việc người nói chấp nhận hay phủ quyết, tán dương hay khinh miệt, tán thành hay phê phán, và liên quan đến cách họ định vị người nghe/người đọc (gọi tắt là người nghe) làm gì đó trong giao tiếp (tr.2 Lí thuyết Ngôn ngữ đánh giá (LTNNĐG) LTNNĐG được Martin & Rose (2003) và Martin & White (2005) đề xuất nhằm phát triển sâu hơn chức năng/nghĩa (gọi tắt là nghĩa) liên nhân của cú/câu đơn (gọi tắt là câu), một trong ba nghĩa của câu là nghĩa biểu ý (ideational meaning/function), nghĩa tạo văn bản (textual meaning/function) và nghĩa liên nhân (interpersonal meaning/function) được Halliday giới thiệu trong Ngữ pháp chức năng hệ thống (1985, 1994, 2004, 2014).
LTNNĐG “nghiên cứu nghĩa liên nhân theo quan điểm ngữ nghĩa học-diễn ngôn, nghiên cứu vấn đề cụ thể hơn là chung chung, quan tâm vào những đặc điểm giao tiếp trong những bối cảnh tình huống đặc biệt biểu hiện qua những thể loại văn bản khác nhau” (White, 1998, tr. LTNNĐG đã được vận dụng vào nghiên cứu các thể loại văn bản viết, văn bản nói, văn bản đa phương thức (Martin & Rose, 2007b), trong lĩnh vực khoa học (Veel, 1998), lĩnh vực giáo dục (Macken-Hoarik, 2003; Hood, 2010; Macken-Hoarik et al, 2011), lĩnh vực nghề nghiệp (Lipovsky, 2009, 2013), lĩnh vực chính trị (Miller, 2007) và lĩnh vực truyền thông (White, 1998; Thomson & White, 2008). LTNNĐG tiếp tục nghiên cứu những lĩnh vực khác do những đánh giá tích cực về lí thuyết này của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học khi họ cho rằng: 9 (1) Nghiên cứu trước đây manh mún về nghĩa liên nhân trong văn bản-viết trong khi lí thuyết ngôn ngữ đánh giá là một công cụ có tính hệ thống nhất vì nó cung cấp một hệ thống loại hình những nguồn đánh giá có thể có trong ngôn ngữ (Hyland, 2005a, tr. (2) Nghiên cứu trước chỉ tập trung vào nguồn từ vựng ngữ pháp trong khi lí thuyết này còn quan tâm nhiều đến ngữ nghĩa liên nhân, đến cách thức ngữ nghĩa được hiện thực hóa thông qua sự hòa quyện các nguồn liên nhân trong từng giai đoạn của văn bản (Hood, 2004a, tr.
(4) Giống như NPCNHT, LTNNĐG mở cửa cho sự bổ sung, phát triển nhằm hoàn thiện hơn các bình diện ngữ nghĩa đánh giá.3 Phân loại hệ thống ngữ nghĩa đánh giá Hệ thống ngữ nghĩa đánh giá (HTNNĐG) là một khung phân tích nhằm nhận diện sự đánh giá trong ngôn ngữ. Martin (2000); Martin & Rose (2003); Martin & White (2005, 2007a) phân biệt ba BDNNĐG chính như sau: Đánh giá Thái độ, gọi tắt là Thái độ (attitude), Thang độ (graduation), Tham gia (engagement) (Martin & Rose 2003, tr. Tóm tắt Hệ thống Đánh giá theo đề xuất của Martin & White (2005) Do phạm vi nghiên cứu của đề tài nên phần cơ sở lí luận chỉ tập trung vào làm rõ bình diện Đánh giá Tình cảm, gọi tắt là Tình cảm (affect) trong phần Đánh giá Thái độ còn những bình diện khác chỉ được giới thiệu một cách cơ bản. Thái độ (attitude) liên quan đến việc đánh giá sự vật, tính cách con người và cảm xúc của họ.
Martin & White (2005) phân chia Thái độ thành ba bình diện: Tình cảm, Đạo đức và Thẩm mĩ. (1) Tình cảm (affect) bao gồm nguồn ngôn ngữ biểu hiện thái độ đánh giá trực tiếp (direct), tường minh (explicit hoặc inscribed) hoặc gián tiếp (indirect), hàm ý (implicit hoặc evoked); tình cảm tích cực (positive) hoặc tiêu cực (negative) liên quan đến người nói hoặc nhắm đến nội dung được đánh giá trong văn bản. Theo Martin (2000); Martin & Rose (2003); Martin & White (2005, 2007a); Bednarek (2008), Ngo & Unsworth (2015), Tình cảm có thể được cụ thể hóa thành bốn nhóm BDNNĐG như sau: (1) Hạnh phúc (2) An tâm (3) Hài lòng (4) Mong muốn Martin (2003, tr. 3) minh họa công thức ĐGTC bằng cấu trúc “Tôi cảm thấy…(I feel…)”.
Hệ thống Đánh giá Tình cảm được Martin & White đề xuất ban đầu kèm một số từ vựng biểu hiện (2005, tr. 51) như sau: Bảng 3. Hệ thống Đánh giá Tình cảm đƣợc Martin & White đề xuất (2005, tr.