MỞ ĐẦU, KẾT THÚC của Ly Lan (2012), CUỘC HÀNH TRÌNH của Phan Văn Hòa và cộng sự (2014), SỰ GẦN GŨI, ĐẮM SAY, KHAO KHÁT của Phạm Thị Hương Quỳnh (2017), THỊ TRƯỜNG của Đinh Thị Hương (2020). Những miền nguồn này xuất hiện rất gần gũi trong hệ thống tri nhận thông thường của con người về tình yêu. Chúng là những đóng góp mới quan trọng trong việc giải thích tình yêu, làm phong phú thêm cho miền nguồn trong quá trình ý niệm hóa tình yêu. Các nghiên cứu so sánh đối chiếu về tình yêu tập trung vào việc so sánh các ẩn dụ tình yêu được khảo sát trong dữ liệu song song giữa hai ngôn ngữ như TA và TV và hầu hết các nghiên cứu đều tìm ra các đặc điểm phổ quát cũng như tương đồng trong quan niệm về tình yêu giữa các ngôn ngữ.
10 Ẩn dụ ý niệm về cuộc đời cũng được khám phá qua những tri nhận và trải nghiệm của con người. Nguyễn Thị Liên (2019) đã nghiên cứu mô hình AD ý niệm CUỘC ĐỜI LÀ MÀU SẮC, khám phá cách thức tư duy của người Việt về con người, đời sống xã hội và cho thấy sự tri nhận về “cuộc đời” có liên quan đến sự tri nhận, trải nghiệm của con người đối với ý niệm “màu sắc”, gắn liền với sự vật, hiện tượng quen thuộc, gần gũi với đời sống văn hóa dân tộc. Nguyễn Thị Quyết (2012) khảo sát AD ý niệm về cuộc đời trong thơ TA và TV và đã đưa ra những AD tương đồng trong thơ ca giữa hai ngôn ngữ. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tình yêu và cuộc đời, Phan Văn Hòa và đối tác (2023) nghiên cứu về mối quan hệ giữa tình yêu- cuộc đời trong thơ ca (A Cognitive Investigation into the Love-life Relationship Expressed in Poetry) khám phá những biểu thức ẩn dụ cơ bản về tầm quan trọng của tình yêu đối với đời sống con người trong thơ TA và TV.
Các phát hiện cho thấy rằng tình yêu được thể hiện một cách ẩn dụ để có ảnh hưởng đáng kể đến cả khía cạnh thể chất và tinh thần của đời sống con người. Bài viết này cũng là một nghiên cứu so sánh chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt AD tình yêu - cuộc đời giữa hai ngôn ngữ. Các tác giả đã cho thấy sức lan tỏa của ẩn dụ, không chỉ là một vật trang trí hay một thủ pháp tu từ. Khác với lý thuyết cổ điển về AD, họ lập luận rằng hệ thống ý niệm của con người là ẩn dụ.
Thông qua các sơ đồ AD cơ bản trong khoa học nhận thức, những trải nghiệm của con người về thực tại được khái niệm hóa. Ẩn dụ là ánh xạ từ MN sang MD. Các nhà nghiên cứu đã thảo luận các vấn đề liên quan đến AD từ góc độ nhận thức với các câu hỏi nổi bật như tính chất của ánh xạ AD là gì; liệu phần kiến thức phong phú còn lại của chúng ta, không được sử dụng trong ánh xạ AD, có bị bỏ qua hay có thể được sử dụng trong quá trình hiểu AD hay không; có bao nhiêu và loại miền mục tiêu nào có thể được đặc trưng bởi một miền nguồn duy nhất. Mỗi nghiên cứu có những cấp độ liên quan khác nhau.
Cho đến nay, nhiều nhà NNH đã quan tâm đến NNH tri nhận và ẩn dụ. Tuy nhiên, ở một phạm vi hẹp, đây là lần đầu tiên việc phân tích đối chiếu các biểu thức AD tri nhận trong tác phẩm “White Fang” của Jack London và bản dịch“Nanh 11 Trắng” của Hoàng Hà Vũ được thực hiện. Qua đây, trong chừng mực nào đó, người nghiên cứu mong muốn hiểu sâu hơn về AD tri nhận trong tác phẩm “White Fang” của Jack London và bản dịch “Nanh Trắng” của Hoàng Hà Vũ, góp thêm tiếng nói vào sự đa dạng của các AD tri nhận, cũng như sự tương đồng và khác biệt về phương thức tư duy của hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Khái niệm ẩn dụ Một phép ẩn dụ là việc so sánh giữa hai sự vật mà không sử dụng từ “như, giống như,…” và thường liên quan đến việc chuyển đổi các đặc tính của một đối tượng sang đối tượng khác.
Tuy nhiên, nó không nên bị nhầm lẫn với các phương thức khác như so sánh, hoán dụ, nhân cách hóa, ám chỉ và phản nghĩa. Bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, “meta” mang sự tiến triển phức tạp từ đơn giản đến cao cấp hơn, và “pherein” có nghĩa là mang, tức là ẩn dụ, từ gốc rễ của nó, có khái niệm so sánh ẩn. Cho đến nay, nhiều nhà NNH và các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về AD. Trong các sách nghiên cứu về ẩn dụ ở trong và ngoài nước, ẩn dụ thường được coi là phép hay cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay giống nhau.
Thuật ngữ ẩn dụ trong tiếng Anh hiện nay là “metaphor”. Trong tiếng Hy Lạp là từ “metapherein” trong đó “meta” có nghĩa là “từ bên này đưa qua bên kia” và “pherein” có nghĩa là “mang, mang đi”. Cả từ có nghĩa là “vận chuyển, chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, nhượng”. Reformatxky (1960) quan niệm: “Ẩn dụ theo nghĩa chiết tự là “sự chuyển đổi” (Perenos), là trường hợp chuyển nghĩa điển hình nhất.
Sự chuyển nghĩa theo ẩn dụ dựa trên sự giống nhau của các sự vật về màu sắc, hình thức, đặc tính vận động, v. Golovin (1977): “Sự chuyển đổi của các từ từ một đối tượng này sang một đối tượng khác trên cơ sở sự giống nhau của chúng được gọi là ẩn dụ” 12 Reddy, M.J (1979) cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển giao ý nghĩa (tên) từ đối tượng này sang đối tượng khác, dựa trên sự giống nhau giữa hai đối tượng. Xtepanốp (1977) định nghĩa: “Bản thân từ Metaphora từ tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là “sự chuyển nghĩa” và “Khi một từ tuy vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ nhưng lại có thêm một sự liên hệ mới, với cái biểu vật mới, thì hiện tượng ngôn ngữ đó là ẩn dụ” Theo Đinh Trọng Lạc (2005) (tác giả cuốn sách 99 Phương tiện và Biện pháp tu từ tiếng Việt): “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A. Nguyễn Lân (1966) quan điểm về ẩn dụ là: “Phép sử dụng từ ngữ ở nghĩa chuyển dựa trên cơ sở sự tương đồng, sự giống nhau giữa các thuộc tính của cái dùng để nói và cái nói đến và ẩn dụ cũng là một cách ví, nhưng không cần dùng đến những tiếng để so sánh như: tựa, như , tường, bằng…” Đỗ Hữu Châu (2009) cho rằng: “Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật này bằng tên một sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng.” Về sau ông giải thích cụ thể hơn như sau: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật.
A vốn là tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính của A). Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y ( để biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau.” Nguyễn Thiện Giáp (1988) cũng quan niệm rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”. Đào Thản (1988) đã giải thích khá cụ thể, rõ ràng ẩn dụ cũng theo quan niệm như vậy trong mối quan hệ với sự so sánh: “Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng. Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh.” 13 Nhiều nhà ngôn ngữ học đương đại cũng chia sẻ quan điểm này và xem so sánh ngầm như là quy trình cơ bản để hiểu về ẩn dụ.
Phan Thế Hưng (2007) đã phân tích và bàn luận theo chiều ngược lại. Tác giả cho rằng: “Chúng ta không hiểu ẩn dụ bằng chuyển ẩn dụ thành phép so sánh. Thay vì vậy, câu ẩn dụ là câu bao hàm xếp loại và do vậy hiểu ẩn dụ qua câu bao hàm xếp loại (chúng tôi nhấn mạnh - NĐT).” Nguyễn Đức Tồn (2009) cho khái niệm: “Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi của sự vật, hiện tượng này bằng tên gọi của sự vật, hiện tượng khác dựa trên cơ sở liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng.” Theo Lý Toàn Thắng (2002): “Ẩn dụ từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng. Chức năng ẩn dụ Nhiều học giả, trong đó Fainsilber và Ortony (1987), đã tìm ra các lý do tại sao ẩn dụ được sử dụng để biểu đạt không dễ giải thích bằng ngôn ngữ nghĩa đen.
Điều này chủ yếu đề cập đến những ý tưởng trừu tượng. Ví dụ như: "Cô bé với mái tóc óng ả, giống như bóng dáng của một thiên thần bay lượn giữa những đám mây trắng." Lý do thứ hai được gọi là giả thuyết compactness. Giả thuyết này nói rằng con người có thể diễn đạt ý tưởng một cách chi tiết và cô đọng hơn bằng phép ẩn dụ. Với câu "Lúc nóng giận, anh ta như một con sói hoang", có thể thấy “Anh ta” nguy hiểm, sẵn sàng tấn công và tàn phá mọi thứ xung quanh chỉ để đạt được mục tiêu cá nhân mà không quan tâm đến hậu quả hoặc sự đau khổ của người khác chỉ bằng các từ bao gồm đặc điểm này một cách cô đọng “sói hoang”, đặc điểm của một con vật đầy nguy hiểm một cách sống động và rõ ràng hơn.
Giả thuyết cuối cùng, được gọi là giả thuyết về tính sống động, nói rằng bằng phép ẩn dụ, các biểu đạt được làm cho rõ ràng và sống động hơn. Bạn có thể thấy điều này trong câu nói "Tình yêu của anh như một bức tranh tuyệt đẹp”, qua đó bạn có thể thấy trải nghiệm của người nói sống động hơn. Bên cạnh những giả thuyết đã trình bày ở trên, còn có những chức năng khác thể hiện đặc điểm của ngôn ngữ hàng ngày.