Chương 1: Tổng quan về đề tài Trang 4 HVTH: Phạm Nhật Quang GVHD: TS Phạm Quang Thái CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Sự hấp thụ ánh sáng Khi một chùm tia sáng truyền qua môi trường vật chất như chất rắn, chất lỏng, chất khí nó bị ảnh hưởng theo 2 cách chính: Một là cường độ của nó lúc nào cũng bị giảm trong quá trình truyền đi qua môi trường, hai là vận tốc truyền đi trong môi trường của nó nhỏ hơn vận tốc truyền trông môi trường chân không. Cường độ ánh sáng giảm chủ yếu do ánh sáng bị hấp thụ và trong một số trường hợp còn do hiện tượng tán xạ ánh sáng. Hiện tượng hấp thụ ánh sáng Chiếu một chùm sáng đơn sắc song song có cường độ I0 vuông góc vào một lớp môi trường có độ dày d.
Nếu bỏ qua hiện tượng mất mát ánh sáng do phản xạ và tán xạ thì cường độ thì cường độ ánh sáng I ra khỏi môi trương bị giảm đi (I<I0) thì có sự hấp thụ ánh sáng của môi trường. Hiện tượng hấp thụ ánh sáng có thể được giải thích theo quan điểm cổ điển và lượng tử. 1: Hiện tượng hấp thụ ánh sáng 2. Giải thích theo quan điểm cổ điển Sự hấp thụ ánh sáng là sự tương tác của sóng điện từ (sóng ánh sáng) với chất.
Dưới tác dụng của điện trường của sóng ánh sáng có tần số các electron của nguyên tử và phân tử dịch chuyển đối với hạt nhân và thực hiện dao động điều hòa. Electron dao động trở thành nguồn phát sóng thứ cấp, do sự giao thoa của sóng tới và sóng thứ cấp mà trong môi trường xuất hiện sóng có biên độ khác với biên độ Chương 2: Lý thuyết liên quan Trang 5 HVTH: Phạm Nhật Quang GVHD: TS Phạm Quang Thái của sóng tới. Do đó cường độ của ánh sáng sau khi qua môi trường cũng bị thay đổi. Không phải toàn bộ năng lượng bị hấp thụ bởi các nguyên tử, phân tử đều được giải phóng dưới dạng bức xạ mà có thể chuyển thành các dạng năng lượng khác ví dụ như năng lượng nhiệt khi đó vật sẽ bị nóng lên.
Những định luật cơ bản của sự hấp thụ ánh sáng Định luật Bouguer – Lambert Lượng tương đối của dòng sáng bị hấp thụ bởi môi trường mà nó đi qua không phụ thuộc vào cường độ của tia tới. Mỗi một lớp bề dày như nhau hấp thụ một phần dòng sáng đơn sắc đi qua dung dịch như nhau Xét sự hấp thụ ánh sáng bởi một dung dịch màu nằm trong cuvet với các thành song song. Bề dày của lớp dung dịch hấp thụ ánh sáng là l. Chiếu một bức xạ năng lượng có cường độ Io tới dung dịch, dung dịch sẽ hấp thụ một phần, phần còn lại sẽ đi ra khỏi dung dịch tới máy thu để ghi nhận.
Đầu tiên Bouger (Pierre Bouger:1698-1758) phát hiện ra rằng phần năng lượng bức xạ bị hấp thụ trên mỗi đoạn đường l của bình đựng có tỷ lệ thuận với chiều dày của bình. Tiếp đó Lambert (Johann Heinrich Lambert: 1728-1777) đã nêu lại mối liên hệ này dưới tên gọi định luật Lambert và công thức trở thành: I I I Phần năng lượng bị hấp thụ = 0 k.l I0 I0 Công thức của định luật Bouguer- Lambert A l.1) Trong đó: A: là mật độ quang, đặc trưng cho khả năng hấp thụ của dung dịch màu. l: là bề dày của dung dịch, có đơn vị cm. Chương 2: Lý thuyết liên quan Trang 6 HVTH: Phạm Nhật Quang GVHD: TS Phạm Quang Thái k: là đại lượng hằng định đặc trưng cho chất đã cho.
Hệ số này trong các giới hạn rộng không phụ thuộc cường độ chùm sáng, chỉ có những giá trị rất lớn của mới không còn hằng định và quan sát thấy có sự phụ thuộc của k vào I Định luật Beer Sự hấp thụ dòng quang năng tỷ lệ bậc nhất với số phân tử của chất hấp thụ mà dòng quang năng đi qua nó. Xét sự hấp thụ ánh sáng bởi một chất màu có thành phần và cấu trúc không đổi khi nồng độ thay đổi. Lấy dung dịch màu đó vào một ống hình trụ cao, nồng độ chất hấp thụ ánh sáng trong dung dịch là C1, quan sát độ hấp thụ ánh sáng từ trên xuống (toàn bộ lớp dung dịch), thu được mật độ quang là A1. Sau đó pha loãng dung dịch n lần và lại quan sát độ hấp thụ ánh sáng từ trên xuống, thu được mật độ quang là A2.C Công thức của định luật Beer: A = K.2) K: là hệ số tỷ lệ.
C: là nồng độ của dung dịch, tính bằng đơn vị mol/L. l: bề dày của dung dịch, đo bằng cm. Định luật hợp nhất Bouguer- Lambeer- Beer Khi đi chiếu một chùm photon đơn sắc qua dung dịch thì mức độ hấp thụ của dung dịch tỷ lệ thuận với công suất chùm photon và nồng độ các phần tử hấp thụ Biểu thức của định luật hợp nhất: I A lg 0 .3) I Chương 2: Lý thuyết liên quan Trang 7 HVTH: Phạm Nhật Quang GVHD: TS Phạm Quang Thái Trong đó: A: là mật độ quang -1 -1 : là độ hấp thụ phân tử gam, đơn vị L. l: là bề dày của dung dịch, đơn vị cm.
C: nồng độ của dung dịch màu, đơn vị mol/L Dựa vào phương trình (2.3) khi ta có định (bằng cách đo tại một bước sóng xác định), l không đổi (đo trong cuvet có bề dày như nhau), nồng độ C thay đổi thì lúc này mật độ quang chỉ phụ thuộc bậc nhất vào nồng độ C. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của A vào nồng độ là một đường thẳng đi qua gốc tọa độ như hình 3a, phương trình đường thẳng y = ax. Tuy nhiên trong thực tế, đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của A vào nồng độ thường là một đường thẳng không đi qua gốc tọa độ như hình 3b, phương trình đường thẳng y =ax+b, nguyên nhân là do ảnh hưởng của thành phần nền của mẩu (ảnh hưởng của nền). 2: Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của mật độ quang A vào nồng độ C 2.
Quang phổ kế quang học Quang phổ kế (Spectrophotometer) là các thiết bị hoạt động dựa trên phân tích quang phổ của ánh sáng, nhằm thu được các thông tin về thành phần, tính chất hay trạng thái của những khối vật chất liên quan đến chùm ánh sáng đó[3]. Phân tích quang phổ là phương pháp hàng đầu trong hóa phân tích. Chương 2: Lý thuyết liên quan Trang 8 HVTH: Phạm Nhật Quang GVHD: TS Phạm Quang Thái Thông thường thì quang phổ kế xác định phân bố cường độ ánh sáng theo bước sóng của ánh sáng do khối vật chất nào đó tự phát ra hoặc phản xạ hay truyền qua nó. Những khối vật chất khác nhau có đặc tính phát quang hay hấp thụ ánh sáng với các bước sóng, hay mức năng lượng của photon.
Chúng thường được nói đến là các vạch quang phổ. Đo cường độ ánh sáng ở các bước sóng (hay các vạch phổ) đặc trưng này cho phép xác định tỷ lệ (hay hàm lượng) của chất tương ứng trong mẫu vật cần nghiên cứu. Phân tích quang phổ có hai dạng đo cơ bản dựa trên nguồn phát sáng: o Quang phổ phát xạ: Phân tích quang phổ của ánh sáng do mẫu vật phát ra khi được nung nóng đến nhiệt độ cần thiết, hoặc vốn là các khối vật chất nóng sáng như Mặt Trời, các vì sao,. Trong trường hợp này có thể xác định được cả nhiệt độ của mẫu vật.
o Quang phổ hấp thụ: Dùng ánh sáng chiếu rọi vào khối vật chất, và quan sát phần ánh sáng phản xạ hay truyền qua mẫu vật. Phần lớn các phân tích quang phổ thực hiện ở vùng ánh sáng nhìn thấy. Một số khác thực hiện ở vùng hồng ngoại, tử ngoại, tia X. Tuy nhiên không thấy nói đến sử dụng vùng tia gamma.
Trong quang phổ kế thì phần cơ bản nhất, là dẫn chùm ánh sáng chứa thông tin đưa tới khối khúc xạ để phân tách ánh sáng theo bước sóng, rồi tới đầu dò để xác định cường độ sáng tại mỗi bước sóng. Trong quang phổ phát xạ thì vạch phổ đặc trưng hiện ra là vạch sáng, Chúng dễ đo và phân tách với dòng tối của phổ. Tuy nhiên việc nung nóng thường làm phá hủy mẫu vật, nên phương cách đo này thường được dùng trong phân tích hàm lượng nguyên tố. Ngoài ra nó được dùng trong nghiên cứu vũ trụ xác định thành phần vật chất ở các ngôi sao phát sáng, hoặc trong kiểm tra chất lượng ánh sáng của các kiểu đèn chiếu sáng.
Trong quang phổ hấp thụ thì vạch phổ đặc trưng hiện ra là vạch tối, nên dễ bị nhiễu loạn. Tuy nhiên phép đo không gây phá hủy mẫu, nên thường được dung Chương 2: Lý thuyết liên quan Trang 9 HVTH: Phạm Nhật Quang GVHD: TS Phạm Quang Thái trong phân tích hàm lượng hợp chất. Lựa chọn vùng phổ cần chú ý đến mẫu vật có xảy ra hiện tượng huỳnh quang với ánh sáng đó hay không. Các loại quang phổ kế[2] Quang phổ kế rời rạc: bao gồm một nguồn bức xạ, bộ lọc nhiễu rời rạc, một mẫu, bộ dò tìm, cùng với thiết bị điện tử thích hợp để khuếch đại tín hiệu và sự ổn định của tín hiệu phát hiện.
Các cấu hình quang cho một quang kế chung được thể hiện trong hình 2. 3: Cấu hình quang phổ kế rời rạc. Quang phổ kế chùm đơn: là quang phổ có một kênh quang học duy nhất đó là cấu hình để đo mẫu hoặc kênh chuẩn nhưng không phải cả hai cùng một lúc. Kết quả phổ là tỷ lệ phổ truyền qua từ mẫu và các phép đo chuẩn.
Trong thực tế phản ứng của các máy dò đo với dòng năng lượng không photon được đo như dòng tối (Dark). Phổ truyền (trong đơn vị T) phổ từ thiết bị này được cho là (2.4) Nếu các máy quang phổ có bất kỳ tính không ổn định (quang học, cơ khí, điện tử .), hằng số thời gian giữa các phép đo mẫu và phép đo chuẩn trở thành quan trọng. Các công cụ chùm đơn hoặc là phải có vốn dĩ ổn định hoặc thay thế giữa các phép đo mẫu và phép đo chuẩn ở một tần số như vậy để làm cho không đáng kể tốc độ thay đổi của quang phổ kế. Thiết kế cho quang phổ đơn sắc và quang Chương 2: Lý thuyết liên quan Trang 10 HVTH: Phạm Nhật Quang GVHD: TS Phạm Quang Thái phổ đôi-đơn sắc, cũng như thiết kế mảng diode, được thể hiện hình 2.
Những thiết kế này có thể được cấu hình như một hoặc hai chùm.