MỞ ĐẦU Tính cấp thiết cúa dé tài Ngày nay, giải pháp sử dụng móng cọc như là hệ thống chịu tải và truyền tải trọng vào đất nền khá pho biến. Yếu tố quan trọng cần quan tâm hàng đầu anh hưởng trực tiếp đến sự làm việc 6n định của kết câu nền móng chính là sức chịu tải và biến dang của đất nền dưới đáy móng. Trên thực tế, từ các dữ liệu quan trắc lún của một sé công trình sử dụng móng cọc, có thể nhận thay rang ton tại sự khác biệt giữa độ lún thiết kế và độ lún thu được từ quan trắc thực tế, giữa độ lún của cọc đơn và độ lún của nhóm cọc. Hiện nay, trong tiêu chuẩn hiện hành khi xác định độ lún của móng cọc vẫn phố biến sử dụng mô hình khối móng quy ước phụ thuộc vào góc ma sát trong của đất, phương pháp này không kế đến ảnh hưởng của số lượng cọc, tỷ số giữa đường kính và chiều dài cọc, khoảng cách cọc và sự tương tác của các cọc trong đài.
Nguyên nhân gây ra sự khác biệt về độ lún giữa cọc đơn và nhóm cọc được chứng minh là do hiệu ứng nhóm. Dưới tác dụng của tải trọng dọc trục, ứng xử của cọc đơn khác với ứng xử của cọc khi làm việc thành nhóm. Cụ thé khi cọc đóng trong đất cát chặt có khoảng cách giữa các cọc nhỏ hơn 3D (D là đường kính hay cạnh cọc) thì kha năng chiu tải của nhóm cọc có thể lớn hơn tong kha nang chiu tai cua các coc đơn do dat xung quanh bị bị xáo trộn làm chặt đất hơn. Ngược lại khi khoảng cách các cọc càng gần nhau trong đất dính (nhỏ hơn 6D) thì khả năng chịu tải của nhóm lại có xu hướng nhỏ hơn tong khả năng chịu tải của các cọc đơn tương ứng do các vùng chống chập của biến dạng cắt trong đất xung quanh cọc.
Trong tất cả các trường hợp thì độ lún của nhóm cọc sẽ lớn hơn độ lún của cọc đơn khi chịu tải tương ứng do vùng ứng suất dưới mũi của nhóm cọc lớn hơn và phát triển sâu hơn do sự chồng chập ứng suất của các cọc đơn bên cạnh nhau. Vì vậy, lựa chọn đề tài “Phân tích độ lún của nhóm cọc thắng đứng chịu tai trọng đúng tâm” để xem xét các yếu tố anh hưởng đến độ lún và tính toán độ lún phục vụ công tác thiết kế móng cọc. Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích độ lún nhóm cọc, có đài tuyệt đối cứng chịu tải trọng dọc trục với sự thay đổi của các thông số: - Số lượng cọc trong nhóm. - Khoảng cách giữa các cọc.
- Sự thay đối của địa chất. - Ty số giữa chiều dài cọc và đường kính cọc. - Sự thay đổi thông số độ cứng của đất. Tiến hành so sánh kết quả tính toán từ các phương pháp: - Phương phương pháp khối móng quy ước.
- Phương pháp ty số độ lún (R,). - Phương pháp hệ số tương tác. - Phương pháp quy đổi nhóm cọc sang trụ tương đương. - Mô phỏng Plaxis 3D.
Từ kết quả phân tích, so sánh, đưa ra các nhận định về độ lún của nhóm cọc, đánh giá mức độ chênh lệch của các phương pháp, kiến nghị các điều kiện để có thé sử dụng được phương pháp. Ý nghĩa khoa học của đề tài Đề tài “Phân tích độ lún của nhóm cọc chịu tải trọng đúng tâm” giúp cho người thiết kế có những định hướng về các yếu tô ảnh hưởng đến độ lún của móng cọc. Đề tài cũng đưa ra các so sánh, đánh giá mức độ chênh lệch giữa các phương pháp ước lượng độ lún của móng cọc hiện nay và kiến nghị các điều kiện dé có thể sử dụng được phương pháp phù hợp. Qua đó giúp cho người thiết kế có những lựa chọn hợp lý về phương pháp ước lượng độ lún của móng cọc.
Phương pháp nghiên cứu Tiến hành lựa chọn ba lớp đất loại sét mang tính đại diện cho đất sét ở TP. Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh phía nam với các thông số hữu hiệu phù hợp với mô hình Hardening soil (c’, @°, E’, v’, k, m, .) dé tiễn hành mô phỏng PTHH cũng như tính toán giải tích. Tiến hành mô phỏng băng chương trình phần tử hữu hạn (Plaxis 3D) cho các nhóm cọc chịu tải trọng dọc trục, có dai tuyệt đối cứng với sự thay đối của các thông số sau: - Sự thay đối của số lượng coc: 4 cọc (2x2), 16 cọc (4x4), 36 cọc (6x6), 64 cọc (8x8) và 100 cọc (10x10). - Sự thay đổi của tỷ số giữa khoảng cách cọc (S) và đường kính (d): S/d = 2, 3,4, 6,8.
- Sự thay đổi của ty số giữa chiều dài cọc (H) và đường kính cọc (d): H/d = 20, 40, 60. Tiến hành tinh toán băng giải tích theo các phương pháp: - Phương pháp tỷ số độ lún theo các tác giả Randolph (1994), Poulos (1989), Bạch Vũ Hoang Lan (2017), Randolph va Clancy (1993). - Sử dụng chương trình Plaxis 3D dé mô phỏng bai toán quy đôi nhóm cọc thành trụ tương đương theo dé xuất từ các nghiên cứu của các tác giả: Randolph và Worth (1978), Poulos và Davis (1980), Randolph va Clancy (1993). - Phương pháp hệ số tương tác được quy định trong tiêu chuẩn tính toán móng cọc hiện hành TCVN 10304:2014 và các tác gia Poulos va Davis (1980), Randolph và Worth (1979).
- Phương pháp Khối móng quy ước được dé xuất bởi Tomlimson (1996). Căn cứ vào các kết quả tính toán độ lún của nhóm cọc từ các phương pháp kinh nghiệm, bán kinh nghiệm, giải tích, quy đối nhóm cọc thành trụ tương đương, phương pháp phan tử hữu hạn tiến hành tong hop, phân tích, so sánh dé đưa ra các kiến nghị, hiệu chỉnh phù hợp để có thể áp dụng các phương pháp vảo thực tế tính toán thiết kê. Pham vi nghiên cứu Ap dụng cho các công trình xây dựng có móng cọc với đất nền là loại sét, đồng nhất mang tinh đặc trưng ở khu vực TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
Nghiên cứu sử dụng móng cọc có đài là tuyệt đối cứng, đài cọc không tiếp xúc với nên đât, tải trọng dọc trục đúng tâm. Coc có tiết diện tròn đặc, đúc sẵn, chiều dài cọc L = 6m; 12m; 18m được thi công bằng phương pháp ép. Nhóm cọc có số lượng cọc trong nhóm lần lượt là: 4 coc, 16 cọc, 36 cọc, 64 cọc và 100 cọc. Khoảng cách giữa các cọc trong nhóm thay đôi: 2d, 3d, 4d, 6d, 8d.
CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE ĐỘ LUN CUA NHÓM COC 1. Khai quat vé mong coc: Móng coc là một loại móng sâu được su dung như là hệ thống chịu tải và truyền tải trọng vào lớp đất tốt nam rất sâu dưới lòng đất. Hai loại cọc phố biến được sử dụng hiện nay là cọc chế tạo san và cọc khoan nhồi (cọc đồ tại chỗ). Hiệu ứng nhóm cọc: Đề chịu được tải trọng lớn, móng cọc thường được cầu tạo bởi một nhóm cọc, tuy nhiên khi khoảng cách giữa các cọc không đủ lớn, sẽ hình thành trong vùng đất xung quanh cọc hiện tượng chồng ứng suất chống cắt do ma sát bên và do sức chống mũi của các cọc gây ra (Hình 1.
Độ lớn ứng suất trong vùng chồng ứng suất này phụ thuộc nhiều vào các yếu tố: Khoảng cách cọc; Chiều dai cọc; Hình dạng cọc; Số lượng cọc; Độ lớn của tải trọng tác dụng vào nhóm cọc và tính chất của nền đất xung quanh nhóm cọc,. Hiện tượng chồng ứng suất làm suy giảm ma sát giữa cọc — đất và sức chồng mũi của cọc dẫn đến giảm khả năng chịu lực và gia tăng chuyên vị của nhóm cọc so Với cọc đơn. P =nPw Hệ số nhóm cọc ( n): ké dén su giam [ sức chịu tải của nhóm cọc so với tông sức | chịu tải của từng cọc đơn làm việc riêng 2 x lẻ: ¢ 3 1 ult U, 1 đ Trong đó: (Qe)u¡ — sức chịu tải giới Hình 1. Vùng ảnh hưởng hạn của nhóm cọc; Q„¡ — sức chịu tải giới | Cua ứng suất xung quanh nhóm cọc hạn của cọc đơn; n — tổng số cọc trong | 1 — Vùng phân bố ứng suất xung nhóm.
quanh nhóm cọc; 2 — Vùng phân bố Tỷ số độ lún (R,): Kế đến sự gia | Ứng suất xung quanh cọc đơn; 3 — tăng chuyển vị đứng (độ lún) của nhóm Vùng chồng chập ứng suất giữa các CỌC cọc so với cọc đơn làm việc trong điều kiện tương đương. Trong đó: Ug — độ lún của nhóm cọc; Us — độ lún của cọc đơn ứng với tải trọng trung bình của cọc trong nhóm. Các phương pháp tính toán độ lún cúa nhóm cọc: Để ước lượng độ lún của nhóm cọc, Skempton (1953) đã kiến nghị cách xác định độ lún của nhóm cọc dựa trên độ lún của cọc đơn phụ thuộc vào bề rộng của nhóm cọc. Trong khi đó, cách xác định của Vesic (1969) đã kiến nghị cách dự báo độ phụ thuộc vào tỷ lệ giữa bề rộng nhóm cọc và đường kính cọc.
Ngoài ra, Meyerhoff (1959) đã bố sung thêm các thông số về khoảng cách giữa các cọc, số hàng trong nhóm cọc vuông. Độ lún trung bình của nhóm (Sc) có n cọc có thé được biểu diễn như một ham theo độ lún của cọc đơn (S;) chịu bang tải trọng trung bình của các cọc trong nhóm thông qua một ty số độ lún R, (Ry = Sœ/S¡). Randolph (1994) đã đề nghị công thức gần đúng để xác định tỷ số độ lún R, theo số lượng cọc trong nhóm và hệ số mũ œ phụ thuộc vào tính chất của đất. Có nhiều tác giả nghiên cứu thực nghiệm tại hiện trường và trong phòng thí nghiệm để xác định giá trị của œ điển hình như Poulos (1989) đã chỉ ra œ + 0.5 đối với nhóm cọc ma sát trong đất sét và œ 0.33 cho nhóm cọc ma sát trong đất cát.
Ở trong nước, Bạch Vũ Hoàng Lan (2017) đã thực hiện mô hình vật lý tỷ lệ nhỏ đối với nhóm cọc có n < 16 cho nền đất sét trạng thái dẻo mém và kiến nghị công thức xác định hệ số mũ œ phụ thuộc vào S/d và L/d (với S: là khoảng cách giữa các cọc; d là đường kính cọc; L là chiều dài cọc). Ngoài ra, Randolph và Clancy (1993) đã dé nghị công thức xác định ty số độ lún R, phụ thuộc vào thông số R, với R phụ thuộc vào số lượng cọc trong nhóm, khoảng cách giữa các cọc và chiều đài cọc. Poulos và Davis (1980) đã đề xuất phương pháp “trụ tương đương” để ước lượng độ lún trung bình của nhóm cọc.