CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG 1. Chính sách tiền tệ 1. Khái niệm Theo Dương Thị Bình Minh và Sử Đình Thành (2004): CSTT là tổng hoà những phương thức mà NHTW thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định.
Ở Việt Nam, theo Luật NHNN 46/2010/QH12 năm 2010: “CSTT Quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm Quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”. Theo đó: “Mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng của CSTT ở Việt Nam hiện nay là ổn định giá trị đồng tiền”. Đây là sự đổi mới, hoàn thiện đúng hướng của CSTT ở Việt Nam theo hướng đơn mục tiêu, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Các công cụ của chính sách tiền tệ Công cụ của CSTT là hệ thống các biện pháp mà NHNN có thể sử dụng để điều chỉnh, tác động trực tiếp hay gián tiếp tới mức cầu tiền tệ, nhằm đạt được mục tiêu cao nhất của CSTT đã đề ra.
Các công cụ của CSTT bao gồm: Dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, lãi suất, thị trường Mở, tỷ giá hối đoái. Dự trữ bắt buộc (DTBB): DTBB là công cụ hành chính của NHTW, nhằm điều tiết mức cung tiền tệ của NHTW cho nền kinh tế. Đây cũng là phần tiền gửi mà NHTW quy định các NHTG phải đưa vào dự trữ theo quy định. Mức DTBB cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ lệ DTBB cao hay thấp.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Tỷ lệ DTBB là tỷ lệ phần trăm trên lượng tiền gửi mà NHTG huy động được và phải để dưới dạng dự trữ, NHTG chỉ được cho vay số tiền còn lại sau khi đã trừ DTBB. Qua đó, việc tăng hay giảm tỷ lệ DTBB của NHTW có thể hạn chế hay mở rộng khối tiền tệ mà hệ thống ngân hàng có khả năng cung ứng cho nền kinh tế và tác động mạnh tới giá cả, tổng cầu và sản lượng quốc gia. Tái cấp vốn Ngoài DTBB, NHTW có thể sử dụng công cụ tái cấp vốn để điều chỉnh linh hoạt CSTT mà không tác động mạnh tới khối lượng tiền trong lưu thông. Với công cụ này, NHTW đóng vai trò là người cho vay cuối cùng đối với NHTM và các tổ chức tín dụng khác.
NHTW sẽ cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các NHTG trên cơ sở nhận tái chiết khấu, tái cầm cố giấy tờ có giá các NHTG. Nếu chính sách của NHTW là mở rộng khối tiền tệ, NHTW sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu và làm dễ dàng các điều kiện cho vay của mình. Từ đó, NHTW sẽ khuyến khích các NHTG đi vay. Với chi phí vay vốn rẻ hơn, điều kiện vay dễ dàng hơn, các NHTG sẽ có xu hướng giảm lãi suất vay và mở rộng tín dụng.
Ngược lai, nếu NHTW muốn theo đuổi một CSTT thắt chặt, NHTW sẽ tăng lãi suất tái chiết khấu, thay đổi điều kiện tái chiết khấu theo hướng khó khăn hơn, từ đó gián tiếp buộc các NHTG tăng lãi suất cho vay và thu hẹp hoạt động tín dụng. Lãi suất Lãi suất là công cụ đi đôi với tái cấp vốn trong điều hành CSTT. Hai công cụ này đi liền với nhau mới tạo ra hiệu ứng thực sự trong điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng. Tuỳ theo điều kiện thực tế và trình độ phát triển của thị trường tài chính, NHTW có thể sử dụng công cụ lãi suất để điều hành CSTT theo các chính sách sau: - NHTW kiểm soát trực tiếp lãi suất thị trường cho các giao dịch bằng cách quy định các loại lãi suất: Lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của từng kỳ hạn; Sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay ; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Công bố lãi suất cơ bản cộng thêm biên độ giao dịch; Dựa trên lãi suất mà NHTW công bố, các NHTG quyết định lãi suất giao dịch với khách hàng.
- NHTW áp dụng chính sách tự do hoá để lãi suất tự hình thành theo cơ chế thị trường. Để can thiệp vào thị trường, NHTW có thể: Công bố lãi suất cơ bản để định hướng thị trường Sử dụng công cụ tái cấp vốn và kết hợp lãi suất thị trường mở để có thể can thiệp và điều chỉnh thị trường. Tại Việt Nam, NHNN trực tiếp quyết định lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất thị trường mở, trần huy động ngắn hạn và trần lãi suất cho vay ngắn hạn thuộc bốn đối tượng ưu tiên đối với nền kinh tế của các TCTD. Các TCTD được thoả thuận lãi suất huy động từ 12 tháng trở lên, lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các đối tượng khác ngoài bốn đối tượng nêu trên và lãi suất cho vay trung và dài hạn của tất cả các khách hàng.
Thị trường Mở Đây là công cụ linh hoạt và hiệu quả của NHTW, được sử dụng rộng rãi ở những nước có thị trường tài chính phát triển. Thị trường Mở là nghiệp vụ mà NHTW tiến hành mua hoặc bán chứng từ có giá ngắn hạn với các NHTM và các thành viên khác của Thị trường Mở để điều hành CSTT của mình. - Khi NHTW bán giấy tờ có giá với giá hấp dẫn sẽ làm tăng cung chứng khoán (giả định các nhân tố khác không đổi). Hành động bán chứng khoán của NHTW làm giá chứng khoán giảm.
Khi đó, các NHTM sẽ mua các chứng khoán này vì có lợi hơn cho vay. Đồng thời, giá chứng khoán rẻ sẽ thu hút các nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán, người dân cũng có xu hướng rút tiền tiết kiệm tại các NHTM để mua chứng khoán. Điều này khiến NHTM phải tăng lãi suất huy động để tránh công chúng rút tiền đầu tư chứng khoán và từ đó làm giảm lượng tiền trong lưu thông. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Ngược lại, khi NHTW mua các giấy tờ có giá và đẩy tiền ra lưu thông, lượng tiền của các NHTM gia tăng khiến NHTM mở rộng cho vay, đầu tư thúc đẩy kinh tế phát triển.
Đồng thời, cầu chứng khoán tăng khiến giá chứng khoán tăng, lãi suất chứng khoán giảm kéo theo lãi suất ngân hàng giảm và khuyến khích các NHTM cho vay, làm tăng lượng tiền trong lưu thông. Tại Việt Nam, công cụ Thị trường Mở được NHTW đưa vào áp dụng từ tháng 07 năm 2000 và ngày càng trở thành một công cụ quan trọng trong điều hành chính sách vĩ mô của NHTW trong những năm gần đây. Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này, được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác. Sự biến đổi của tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ tới mọi hoạt động kinh tế, từ xuất nhập khẩu tới sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hoá.
Do đó, tỷ giá hối đoái cũng có thể coi là một công cụ để NHTW thực thi CSTT của mình. Tuy vậy, không giống như những công cụ khác, NHTW không kéo tỷ giá giảm xuống hoặc đẩy tỷ giá lên mà NHTW có thể ấn định tỷ giá cố định hoặc thả nổi theo cung cầu ngoại tệ hoặc thả nổi có quản lý. Công cụ này đòi hỏi NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại hối và sự kết hợp, điều hoà các công cụ khác để trung hoà ảnh hưởng của hoạt động mua bán ngoại hối. Cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ Để đạt được những mục tiêu của CSTT, NHTW sử dụng các công cụ của mình tác động vào nền kinh tế.
Những động thái điều chỉnh này của NHTW sẽ ảnh hưởng tới tổng thể nền kinh tế thông qua nhiều biến, nhiều thị trường với thời gian và cường độ khác nhau. Quá trình CSTT tác động đến nền kinh tế thông qua một chuỗi các mắc xích có mối liên hệ kết nối với nhau gọi là kênh truyền dẫn CSTT và cách thức mà các kênh này hoạt động hình thành nên cơ chế truyền dẫn của CSTT. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Như vậy có thể thấy cơ chế truyền dẫn của CSTT là cách thức quá trình những thay đổi trong CSTT ảnh hưởng đến các biến số vĩ mô trọng yếu của nền kinh tế như tổng tiêu dùng, giá cả, đầu tư, sản lượng.Cơ chế truyền dẫn của CSTT bao gồm hai giai đoạn: - Đầu tiên, những điều chỉnh trong CSTT của NHTW sẽ tác động trực tiếp tới thị trường tiền tệ và tài sản. - Tiếp theo, những thay đổi trong các thị trường kể trên sẽ tác động tới thị trường hàng hoá và lao động.
Giai đoạn này bao gồm sự hoạt động của các kênh truyền dẫn, nhờ đó những thay đổi của CSTT sẽ ảnh hưởng tới sản lượng và giá cả của nền kinh tế. Đến lượt mình, những thay đổi hiện tại và dự kiến của lạm phát và sản lượng sẽ gây ra tác động phản hồi đến CSTT. Nghiên cứu của Mishkin (1996) đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về cơ chế truyền dẫn của CSTT. Theo đó, những tác động của CSTT được truyền tải tới nền kinh tế thông qua các kênh: kênh lãi suất, kênh tín dụng và kênh giá cả tài sản.
Bài nghiên cứu sẽ lần lượt đi phân tích từng kênh truyền dẫn để làm rõ cơ chế truyền dẫn của CSTT qua các kênh này. Kênh lãi suất Kênh lãi suất là kênh truyền dẫn truyền thống của CSTT. Kênh này hoạt động như sau: M ↑ → lãi suất danh nghĩa ngắn hạn ↓ → lãi suất thực ngắn hạn ↓ → lãi suất thực dài hạn ↓ → I ↑ → Y ↑ (Mishkin 1996) Tác động của CSTT từ NHTW làm thay đổi cung tiền (M), từ đó làm thay đổi lãi suất danh nghĩa ngắn hạn. Vì trong ngắn hạn, giá cả là cố định nên mức giá chung điều chỉnh một các chậm chạp theo thời gian.
Do đó một sự điều chỉnh trong lãi suất danh nghĩa ngắn hạn cũng đồng thời tác động tới lãi suất thực ngắn hạn. Theo học thuyết kỳ vọng hợp lý về cấu trúc kỳ hạn của lãi suất (Miskhin 2004): lãi suất dài hạn là trung bình lãi suất ngắn hạn tương lai kỳ vọng. Điều đó có nghĩa: một lãi suất thực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.