Tổng quan về luận án
Nghiên cứu "Phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam" của tác giả Trần Thị Quyên (Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Mã số: 9 38 01 04; Người hướng dẫn khoa học: GS. Nguyễn Minh Đoan; Trường Đại học Luật Hà Nội, 2019) giải quyết yêu cầu chuyển dịch mô hình xây dựng pháp luật từ tư duy hành chính, chủ quan sang mô hình lập pháp hiện đại dựa trên bằng chứng khoa học (evidence-based lawmaking). Bối cảnh khoa học của luận án xuất phát từ đòi hỏi nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Tác giả vận dụng tư tưởng của nhà cải cách chính trị John Gardner: "Điều ta đang có trước mắt là những cơ hội hấp dẫn được nguỵ trang như những vấn đề không giải quyết nổi" để khẳng định rằng mọi bất cập trong quản trị công đều là cơ hội để rà soát vai trò của nhà nước và thiết kế các giải pháp can thiệp pháp lý hiệu quả.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được luận án định vị là: Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã chính thức luật hóa quy trình xây dựng chính sách thành một giai đoạn độc lập, bắt buộc trước khi soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), nhưng hệ thống lý luận và công cụ thực thi phân tích chính sách ở Việt Nam vẫn còn sơ khai, lúng túng giữa nghiên cứu chính sách hàn lâm và kỹ năng phân tích thực hành. Nhiều dự thảo luật trước đây theo quy trình của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (hướng dẫn bởi Nghị định số 24/2009/NĐ-CP) rơi vào tình trạng "luật khung, luật ống", thiếu tính khả thi và bị chi phối bởi tư duy cục bộ ngành. Luận án đặt ra hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học chặt chẽ:
- Câu hỏi 1 (Q1): Vai trò, ý nghĩa bản chất của phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp là gì?
- Giả thuyết 1 (H1): Phân tích chính sách cung cấp luận cứ khoa học dựa trên bằng chứng giúp các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định chính sách tối ưu, khắc phục triệt để tính duy ý chí trong lập pháp.
- Câu hỏi 2 (Q2): Phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp cấu thành từ những phương diện nào?
- Giả thuyết 2 (H2): Phân tích chính sách là hoạt động đa diện, tích hợp hữu cơ giữa chủ thể, quy trình, phương pháp và căn cứ; sự tương tác chuẩn mực giữa các thành tố này quyết định chất lượng đạo luật.
- Câu hỏi 3 (Q3): Năng lực phân tích chính sách của chủ thể tiến hành tác động như thế nào đến chất lượng xây dựng luật?
- Giả thuyết 3 (H3): Năng lực chuyên môn hóa của chủ thể là yếu tố quyết định hàng đầu; sự thiếu vắng đội ngũ phân tích độc lập, chuyên nghiệp sẽ làm suy giảm độ tin cậy của toàn bộ quy trình lập pháp.
- Câu hỏi 4 (Q4): Việc tham chiếu kinh nghiệm phân tích chính sách từ các quốc gia có thể chế chính trị - pháp lý khác biệt có gây xung đột hay khập khiễng khi vận dụng vào Việt Nam?
- Giả thuyết 4 (H4): Dù chịu sự chi phối của đặc thù thể chế, phân tích chính sách vẫn chứa đựng các giá trị phổ quát mang tính kỹ thuật công nghệ lập pháp có thể tiếp thu và tương thích hóa với điều kiện Việt Nam.
Khung lý thuyết của công trình được định hình vững chắc từ Khoa học chính sách của Harold D. Lasswell (1971), Lý thuyết phân tích chính sách thực hành của David L. Weimer & Aidan R. Vining (1992), Khung tiến trình chính sách của Brian W. Hogwood & Lewis A. Gunn (1984), cùng học thuyết Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa chính sách và pháp luật (Nguyễn Minh Đoan, 2011; Võ Khánh Vinh, 2013). Đóng góp mang tính đột phá của luận án là phân định rành mạch ranh giới cấu trúc giữa giai đoạn "lập đề nghị xây dựng VBQPPL" và giai đoạn "soạn thảo VBQPPL", đồng thời kiến tạo mô hình phân tích chính sách đa chiều (kinh tế, xã hội, giới, thủ tục hành chính, tính tương thích hệ thống pháp luật). Phạm vi khảo cứu của luận án bao quát 6 quốc gia đại diện cho các trường phái pháp lý và hình thức chính thể điển hình: Hoa Kỳ, Canada, Úc (Common Law), Ba Lan, Nhật Bản (Civil Law), và Trung Quốc (xã hội chủ nghĩa/chuyển đổi), đối chiếu với thực tiễn lập pháp Việt Nam từ năm 2008 đến giai đoạn thực thi Luật năm 2015 (trọng tâm khảo sát 2015-2019).
Literature Review và Positioning
Luận án tổng hợp và phân tích 3 dòng nghiên cứu khoa học chính yếu trong nước và quốc tế:
Thứ nhất, dòng nghiên cứu lý luận nền tảng về chính sách công và phân tích chính sách: Harold D. Lasswell (1971) với A Pre-view of Policy Sciences đã đặt nền móng cho khoa học định hướng vấn đề; Thomas R. Dye (1992), Frank Fischer (1995), Alan Fenna (2004) định nghĩa chính sách công qua hành vi lựa chọn hành động hoặc không hành động của chính phủ; David Easton tiếp cận chính sách như chuỗi quyết định phân phối giá trị quyền uy; David L. Weimer & Aidan R. Vining (1992) trong Policy Analysis: Concepts and Practice chuẩn hóa các bước phân tích giải pháp và phân tích chi phí - lợi ích. Tại Việt Nam, Lê Vinh Danh (2001), Nguyễn Hữu Hải (2014), Phạm Quý Thọ & Nguyễn Xuân Nhật (2014) đã hệ thống hóa lý luận chính sách công. Đáng chú ý, PGS. Nguyễn Hữu Hải (2014) đưa ra luận điểm: "Phân tích chính sách công là quá trình xem xét toàn diện các yếu tố hợp thành chính sách nhằm cung cấp cơ sở cho việc hoạch định, thực thi và đánh giá một chính sách nhằm hoàn thiện các chính sách hiện hành". Lê Việt Ánh & Vũ Thành Tự Anh xác định: "Phân tích chính sách là một quá trình sáng tạo, đánh giá, phê phán, và truyền đạt thông tin phù hợp chính sách".
Thứ hai, dòng nghiên cứu về công cụ Đánh giá tác động quy định (Regulatory Impact Assessment - RIA): John F. Broughel nghiên cứu vai trò của RIA trong xây dựng pháp luật liên bang Hoa Kỳ; Jacobs and Associates (2006) chỉ ra các thách thức khi lồng ghép RIA vào quy trình chính sách ở các nước phát triển; Sổ tay A good practice handbook for managing Regulatory impact analysis (2012) của Chính phủ Canada và Báo cáo Regulatory impact analysis: Benchmarking (2012) của Productivity Commission (Úc) cùng Sổ tay Regulatory burden measurement framework (2015) của Văn phòng Thủ tướng và Nội các Úc cung cấp chuẩn mực đo lường gánh nặng chi phí tuân thủ. Tại Việt Nam, đề tài cấp bộ của TS. Dương Thị Thanh Mai (2012) đã tổng kết thực tiễn 3 năm áp dụng chế định RIA theo Luật năm 2008, chỉ rõ khâu yếu nhất là luận giải nhu cầu chính sách và kiểm chứng dự báo tác động.
Thứ ba, dòng nghiên cứu về thiết chế lập pháp và tiến trình ban hành luật: Kenneth Lieberthal & Michel Oksenberg (1988) cùng Murray Scot Tanner phân tích quy trình lập pháp "đa lớp, đa cấp bậc" chịu ảnh hưởng chính trị tại Trung Quốc (với 5 bước: agenda-setting, inter-agency review, top leadership approval, NPC debate and passage, explication/implementation); Brian Head & Kate Crowley (2015) với Policy analysis in Australia và Yukio Hosono & Jun Iio (2015) với Policy analysis in Japan làm rõ sự tham gia của các viện nghiên cứu, mạng lưới chuyên gia ngoài chính phủ. Trong nước, tác giả Nguyễn Đình Quyền, Lê Thị Ngọc Mai (2016), Nguyễn Anh Phương (2016) và TS. Nguyễn Sĩ Dũng (2017) đã luận giải sâu sắc về động lực lập pháp và cơ chế tương tác giữa cơ quan hành pháp và lập pháp. TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh: "Thiếu sự tương tác này giữa lập pháp và hành pháp, thì cho dù quy trình lập pháp có được thiết kế tinh vi đến đâu chăng nữa, nó cũng chỉ là một quy trình nhân tạo. Sản phẩm tất yếu của một quy trình nhân tạo là các đạo luật nhân tạo. Các đạo luật nhân tạo không cần cho cuộc sống. Nhà nước vẫn có thể áp đặt chúng cho xã hội. Tuy nhiên, những cố gắng như vậy không sớm thì muộn sẽ làm cho các cơ quan của nhà nước hụt hơi. Cuộc sống như ao bèo, sẽ phẳng lặng trở lại sau một hồi xao động".
Tranh luận học thuật cốt lõi tồn tại giữa hai quan điểm: (1) Xem phân tích chính sách là hoạt động lồng ghép phân tán trong toàn bộ quy trình soạn thảo văn bản; đối lập với quan điểm (2) Xem phân tích chính sách là một giai đoạn độc lập, có giá trị tiền đề khép kín quyết định việc có ban hành luật hay không. Luận án định vị nghiên cứu của mình bằng việc khẳng định tính ưu việt của mô hình tách bạch hai giai đoạn: hoạch định/phân tích chính sách trước, sau khi được phê duyệt mới chuyển sang kỹ thuật quy phạm hóa văn bản. Nghiên cứu tiến xa hơn các công trình đi trước khi vượt qua khuôn khổ phân tích đơn lẻ từng nước, thực hiện đối chiếu đa chiều 6 hệ thống lập pháp quốc tế để chưng cất bài học áp dụng trực tiếp cho việc vận hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 tại Việt Nam.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án làm phong phú và phát triển lý thuyết về quan hệ giữa chính sách và pháp luật trong khoa học pháp lý Việt Nam. Dựa trên phép biện chứng mác-xít và lý thuyết phân tích thể chế, tác giả chứng minh mối quan hệ giữa chính sách và pháp luật tương ứng với cặp phạm trù nội dung và hình thức: Chính sách là linh hồn, là nội dung định hướng chính trị - xã hội; pháp luật là hình thức, là công cụ chuẩn tắc để thể chế hóa chính sách thành các quy tắc xử sự mang tính cưỡng chế chung.
Luận án xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn mực: Phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp là quá trình nghiên cứu, xem xét một cách toàn diện, khách quan và có hệ thống các vấn đề thực tiễn cần sự can thiệp của nhà nước, nhằm xây dựng, đánh giá, so sánh và lựa chọn các phương án giải quyết tối ưu (về kinh tế, xã hội, pháp lý), cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho các chủ thể có thẩm quyền ra quyết định chính sách và chuyển hóa chính sách đó thành các văn bản luật.
Hệ thống luận điểm lý thuyết được cụ thể hóa thành 4 mệnh đề (Propositions):
- Mệnh đề 1 (P1): Chất lượng của văn bản luật tỷ lệ thuận với mức độ khách quan và tính nghiêm ngặt của phương pháp phân tích chính sách ở giai đoạn lập đề nghị.
- Mệnh đề 2 (P2): Sự tham gia của các chủ thể độc lập ngoài khu vực nhà nước (viện nghiên cứu, hiệp hội, chuyên gia) đóng vai trò kiểm chuẩn, giảm thiểu rủi ro lợi ích nhóm và tham nhũng chính sách.
- Mệnh đề 3 (P3): Việc kết hợp đồng thời phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) với đánh giá tác động thủ tục hành chính và lồng ghép bình đẳng giới là điều kiện cần để đảm bảo tính khả thi của văn bản luật.
- Mệnh đề 4 (P4): Thẩm quyền phê duyệt đề nghị xây dựng chính sách phải thuộc về cơ quan dân cử cao nhất (Quốc hội) nhằm kiểm soát quyền lực của cơ quan hành pháp trong việc đề xuất chính sách.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp liên ngành 3 mô hình lý thuyết: (1) Lý thuyết chu trình chính sách (Policy Cycle Theory) để cấu trúc hóa các bước phân tích từ xác định vấn đề đến thẩm định; (2) Lý thuyết kinh tế học thể chế và Lựa chọn công (Public Choice Theory) để áp dụng các công cụ lượng hóa chi phí - lợi ích và gánh nặng tuân thủ; (3) Lý thuyết lập pháp hiện đại (Modern Legislative Theory) để chuẩn hóa quy trình phân quyền giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp.
Cách tiếp cận phân tích được thiết kế theo cấu trúc 4 trụ cột tương tác:
- Chủ thể phân tích: Phân định rõ thẩm quyền giữa cơ quan đề xuất (Bộ/Chính phủ), cơ quan thẩm định (Bộ Tư pháp), cơ quan thẩm tra/quyết định (Quốc hội/Ủy ban thường vụ Quốc hội) và các chủ thể phản biện độc lập (chuyên gia, đối tượng chịu tác động).
- Căn cứ phân tích: Đường lối chính trị của Đảng, Hiến pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan và các chứng cứ dữ liệu thực tiễn đời sống.
- Quy trình phân tích: Tuân thủ chuỗi logic khép kín gồm 5 bước: (i) Nhận diện và định nghĩa vấn đề công; (ii) Xác định mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể; (iii) Đề xuất các phương án chính sách (bao gồm phương án giữ nguyên hiện trạng - "do nothing"); (iv) Đánh giá tác động đa chiều của từng phương án; (v) So sánh, lựa chọn phương án tối ưu và xây dựng báo cáo khuyến nghị.
- Phương pháp và công cụ: Kết hợp phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA), phân tích chi phí - hiệu quả (CEA), phân tích rủi ro, phân tích gánh nặng tuân thủ thủ tục hành chính và phương pháp xã hội học pháp luật.
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: Khung phân tích vận hành hiệu quả trong điều kiện nhà nước pháp quyền có sự minh bạch thông tin, cam kết trách nhiệm giải trình cao và bảo đảm nguồn lực tài chính, kỹ thuật cho hoạt động nghiên cứu chính sách độc lập.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án ứng dụng thế giới quan duy vật biện chứng và chủ nghĩa hiện thực pháp lý (Legal Realism) làm nền tảng triết học nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu theo mô hình phương pháp hỗn hợp (Mixed Methods Research) kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính phân tích chuẩn tắc pháp lý (normative doctrinal legal analysis) và nghiên cứu định lượng/thực nghiệm đánh giá tác động quy định (empirical regulatory impact analysis).
Nghiên cứu áp dụng thiết kế đa cấp độ (multi-level comparative design):
- Cấp độ quốc tế: Nghiên cứu so sánh luật học (Comparative Law) đối với 6 quốc gia thuộc 3 nhóm mô hình thể chế: Nhóm thông luật phân quyền mạnh (Hoa Kỳ, Canada, Úc); Nhóm dân luật truyền thống (Ba Lan, Nhật Bản); Nhóm pháp luật xã hội chủ nghĩa chuyển đổi (Trung Quốc).
- Cấp độ quốc gia: Khảo sát tiến trình lập pháp ở cấp độ trung ương tại Việt Nam, phân tích mối quan hệ phân công, phối hợp giữa Chính phủ (cơ quan khởi xướng chính sách) và Quốc hội (cơ quan thẩm tra và thông qua luật).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược chọn mẫu quốc tế được thiết lập dựa trên các tiêu chí tường minh: Hoa Kỳ đại diện cho mô hình phân tích chi phí - lợi ích (CBA) nghiêm ngặt do Văn phòng Thông tin và Điều tiết (OIRA) thuộc OMB kiểm soát; Canada áp dụng Sổ tay A good practice handbook for managing RIA đa ngành; Úc sở hữu Khung đo lường gánh nặng quy định hàng đầu; Nhật Bản với mô hình hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng của hệ thống công chức chuyên nghiệp; Ba Lan đại diện cho hệ thống chuyển đổi Trung Âu gia nhập EU; Trung Quốc cung cấp mô hình lập pháp tương đồng về thể chế chính trị.
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành nghiêm ngặt thông qua các công cụ:
- Thu thập tài liệu thứ cấp: Khảo sát toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của 6 nước nghiên cứu; rà soát 100% các báo cáo ĐGTĐCS đi kèm các dự án luật trình Quốc hội Việt Nam khóa XIII, XIV; nghiên cứu các sổ tay hướng dẫn kỹ thuật của Bộ Tư pháp (2018), Ngân hàng Thế giới, OECD.
- Thu thập tài liệu sơ cấp: Thực hiện phỏng vấn chuyên sâu (in-depth interviews) đối với các chuyên gia lập pháp, thành viên Ban soạn thảo, cán bộ Vụ Pháp luật (Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Bộ Tư pháp).
- Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Kiểm chứng chéo thông tin giữa văn bản pháp luật thực định, báo cáo đánh giá tác động thực tế và ý kiến phản biện của các chuyên gia độc lập nhằm triệt tiêu thiên kiến nhận thức.
Data và phân tích
Luận án thực hiện phân tích đối chiếu chuyên sâu các bộ dữ liệu lập pháp:
- Phân tích so sánh 7 tiêu chuẩn thẩm định chính sách quy định tại Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (Khoản 3 Điều 39, Khoản 3 Điều 88, Khoản 3 Điều 115): (i) Sự cần thiết; (ii) Sự phù hợp với chủ trương của Đảng; (iii) Tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất; (iv) Tính khả thi, dự báo; (v) Tính tương thích với điều ước quốc tế; (vi) Chi phí tuân thủ TTHC và lồng ghép bình đẳng giới; (vii) Trình tự, thủ tục, tính công khai, minh bạch.
- Đánh giá thực trạng áp dụng các kỹ thuật phân tích tại Việt Nam: Phân tích định tính chiếm trên 85% các báo cáo ĐGTĐCS; tỷ lệ áp dụng mô hình lượng hóa kinh tế lượng, phân tích chi phí - lợi ích (CBA) có số liệu thực nghiệm chỉ chiếm dưới 15% do thiếu hụt cơ sở dữ liệu quốc gia và phần mềm phân tích chuyên dụng.
- Kiểm tra tính vững (Robustness checks): Đối chiếu các kịch bản chính sách có dự án và không có dự án (tương tự phương pháp luận trong luận văn phân tích CBA dự án sân bay Long Thành của Vũ Minh Hoàng, 2011) nhằm đánh giá độ nhạy của các biến số chính sách.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Từ quá trình nghiên cứu lý luận và khảo chiếu thực tiễn 6 quốc gia cùng thực trạng Việt Nam, luận án rút ra 5 phát hiện mang tính đột phá:
-
Sự hình thành bước ngoặt về "Địa vị pháp lý" của phân tích chính sách tại Việt Nam: Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 đã tạo ra bước tiến thể chế mang tính lịch sử khi tách quy trình lập pháp thành hai giai đoạn độc lập: Giai đoạn xây dựng, phân tích chính sách (lập đề nghị xây dựng VBQPPL) và Giai đoạn soạn thảo văn bản. Thực tế chứng minh các dự án luật được xây dựng theo quy trình mới có điểm đánh giá chất lượng chuẩn mực vượt trội so với quy trình cũ của Luật năm 2008.
-
Hiện tượng "Bẫy hình thức hóa" và sự thiếu hụt chuyên gia phân tích độc lập: Phân tích chính sách ở Việt Nam hiện nay phần lớn vẫn mang tính đối phó, hợp thức hóa ý chí chủ quan có sẵn của cơ quan chủ trì soạn thảo. Chủ thể thực hiện phân tích chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm của các Bộ, ngành, dẫn đến rủi ro "cài cắm lợi ích ngành" vào chính sách. Nghiên cứu chỉ ra Việt Nam đang thiếu vắng hoàn toàn một thiết chế thẩm định độc lập tương tự OIRA (Hoa Kỳ) hay Productivity Commission (Úc).
-
Chênh lệch phương pháp luận và "khoảng trống" dữ liệu định lượng: Trong khi các nước phát triển (Mỹ, Úc, Canada) áp dụng bắt buộc khung đo lường chi phí tuân thủ định lượng (Standard Cost Model - SCM) và phân tích CBA có kiểm chứng số liệu thống kê, thì tại Việt Nam các báo cáo ĐGTĐCS chủ yếu sử dụng phương pháp mô tả định tính, lập luận chung chung, thiếu độ tin cậy khoa học.
-
Bài học về sự tương tác cân bằng giữa Lập pháp và Hành pháp: Kinh nghiệm từ Canada, Hoa Kỳ và Úc cho thấy Chính phủ là chủ thể nắm bắt thực tiễn tốt nhất để đề xuất và phân tích chính sách, nhưng Quốc hội phải nắm giữ quyền lực tối cao trong việc phê chuẩn đề nghị chính sách trước khi cho phép Chính phủ tiến hành soạn thảo chi tiết thành các điều luật.
-
Quy luật về sự phân hóa mô hình chủ thể phân tích: Tồn tại hai mô hình chủ thể rõ rệt trên thế giới: Mô hình chuyên nghiệp hóa cao (Mỹ, Canada) với sự tham gia của các tổ chức tư vấn độc lập (think tanks), viện nghiên cứu; và Mô hình bán chuyên nghiệp/hành chính hóa (Trung Quốc, Nhật Bản). Việt Nam cần lựa chọn mô hình hỗn hợp có lộ trình chuyển dịch sang chuyên nghiệp hóa.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Hoàn thiện lý thuyết khoa học chính sách trong hoạt động lập pháp, xác lập khung khái niệm chuẩn mực về các cấp độ chính sách (chính sách chung của Đảng/Nhà nước, chính sách cụ thể của dự án luật, chính sách cho các vấn đề kỹ thuật phát sinh trong soạn thảo).
- Về mặt phương pháp luận: Cung cấp hướng dẫn quy trình 5 bước phân tích chính sách tích hợp, đưa ra bộ tiêu chí đánh giá tác động toàn diện phù hợp với điều kiện chuyển đổi số và quản trị công tại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn và chính sách:
- Kiến nghị 1: Sửa đổi, bổ sung quy định Luật Ban hành VBQPPL theo hướng bắt buộc thuê các đơn vị nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia độc lập thực hiện phân tích tác động đối với các chính sách lớn, có ảnh hưởng sâu rộng đến quyền và nghĩa vụ của người dân, doanh nghiệp.
- Kiến nghị 2: Thành lập Ủy ban/Cơ quan Đánh giá tác động quy định độc lập trực thuộc Chính phủ hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội để "gác cổng", kiểm soát chất lượng các báo cáo ĐGTĐCS trước khi dự thảo được đưa ra Quốc hội thảo luận.
- Kiến nghị 3: Xây dựng Cổng dữ liệu quốc gia phục vụ phân tích chính sách và ban hành Khung đo lường gánh nặng quy định chuẩn hóa, bắt buộc lượng hóa chi phí tuân thủ thủ tục hành chính.
Limitations và Future Research
Luận án thừa nhận một số giới hạn nghiên cứu khách quan:
- Giới hạn về dữ liệu thực nghiệm: Do Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 mới đi vào thực tiễn trong thời gian ngắn (từ 2016 đến thời điểm hoàn thành luận án năm 2019), số lượng các đạo luật hoàn thành trọn vẹn chu kỳ chính sách (bao gồm cả đánh giá tác động sau khi ban hành - ex-post RIA) còn hạn chế, khiến việc đánh giá hiệu quả dài hạn gặp nhiều thách thức.
- Giới hạn về phạm vi so sánh: Việc lựa chọn 6 quốc gia dù mang tính điển hình cao nhưng chưa thể bao quát hết sự đa dạng của các mô hình lập pháp tại các quốc gia đang phát triển trong khu vực ASEAN có điều kiện tương đồng với Việt Nam.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Hướng 1: Nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế lượng và hệ số chiết khấu xã hội chuẩn hóa cho việc tính toán phân tích chi phí - lợi ích (CBA) trong đánh giá tác động chính sách pháp luật tại Việt Nam.
- Hướng 2: Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI), Dữ liệu lớn (Big Data) và Công nghệ phân tích dự báo (Predictive Analytics) trong mô phỏng hành vi đối tượng chịu tác động của luật.
- Hướng 3: Đánh giá tác động chính sách sau ban hành (Ex-post Regulatory Impact Assessment) và cơ chế hồi tố, sửa đổi luật thích ứng với sự phát triển của kinh tế số và cách mạng công nghiệp 4.0.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện và chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam về phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp dưới giác độ so sánh luật học; trở thành tài liệu tham khảo cốt lõi cho các chương trình đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ luật học, quản lý công và chính sách công.
- Tác động lập pháp và thể chế: Các luận điểm và kiến nghị của luận án cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Bộ Tư pháp và Viện Khoa học pháp lý trong việc theo dõi thi hành và định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Tác động kinh tế - xã hội: Việc áp dụng quy trình phân tích chính sách chuẩn mực giúp loại bỏ các quy định hành chính rườm rà, cắt giảm hàng nghìn tỷ đồng chi phí tuân thủ không đáng có cho doanh nghiệp và người dân, tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận khung lý thuyết liên ngành tích hợp, phương pháp luận so sánh luật học tiên tiến và hệ thống tài liệu tham khảo quốc tế phong phú.
- Đại biểu Quốc hội và Cơ quan thẩm tra: Nâng cao năng lực phản biện, thẩm tra các báo cáo chính sách do Chính phủ trình, đảm bảo tính khoa học và đại diện cho ý chí cử tri.
- Cơ quan hành pháp và Cán bộ soạn thảo: Sử dụng bộ công cụ và quy trình 5 bước chuẩn hóa để xây dựng các đề nghị làm luật khả thi, hạn chế tối đa việc chỉnh sửa, bổ sung luật liên tục sau khi ban hành.
- Cộng đồng doanh nghiệp và Tổ chức xã hội: Được mở rộng cơ chế tham vấn, đóng góp ý kiến thực chất vào quá trình hoạch định chính sách từ giai đoạn sớm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã phân lập và hoàn thiện lý thuyết quan hệ bản thể luận giữa "chính sách" và "pháp luật" trong khoa học pháp lý Việt Nam theo cặp phạm trù nội dung - hình thức. Tác giả đã mở rộng học thuyết chu trình chính sách của Harold Lasswell và khung phân tích của Weimer & Vining để xác lập mô hình phân tích chính sách 2 giai đoạn độc lập trong quy trình lập pháp Việt Nam.
-
Tính đổi mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
Khác với các nghiên cứu trước đây của Dương Thị Thanh Mai (2012) hay Đoàn Thị Tố Uyên (2016) chỉ dừng lại ở khảo sát thực trạng RIA nội địa, luận án đã thực hiện phương pháp so sánh luật học đa cực (Mỹ, Canada, Úc, Ba Lan, Nhật Bản, Trung Quốc) kết hợp tam giác hóa dữ liệu định tính và định lượng, đặt RIA vào vị trí một công cụ kỹ thuật then chốt của phân tích chính sách lập pháp.
-
Phát hiện bất ngờ và có tính phản trực giác nhất?
Phát hiện cho thấy việc "luật hóa" bắt buộc quy trình phân tích chính sách trong Luật năm 2015 nếu không đi kèm với thiết chế kiểm chuẩn độc lập và nguồn lực tài chính tương xứng sẽ dẫn đến nguy cơ tạo ra "bẫy hình thức hóa" quy mô lớn: các báo cáo ĐGTĐCS dài hàng trăm trang nhưng thực chất chỉ là văn bản biện hộ cho ý chí chủ quan có sẵn của cơ quan soạn thảo.
-
Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lập (Replication Protocol) không?
Có. Luận án cung cấp quy trình phân tích 5 bước chuẩn mực kèm theo 7 nhóm tiêu chuẩn thẩm định chính sách cụ thể, các công thức xác định gánh nặng chi phí tuân thủ và khung tham chiếu so sánh giữa các quốc gia, cho phép các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý áp dụng lặp lại cho bất kỳ dự án luật chuyên ngành nào.
-
Chương trình nghiên cứu 10 năm được định hình như thế nào?
Luận án vạch ra lộ trình 10 năm nghiên cứu tập trung vào 3 trụ cột: (1) Chuẩn hóa mô hình đo lường chi phí quy định (SCM) cho toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam; (2) Chuyên nghiệp hóa chức danh chuyên gia phân tích chính sách công; (3) Thiết lập hệ thống đánh giá tác động sau ban hành (Ex-post RIA) dựa trên nền tảng dữ liệu lớn và AI.
Kết luận
Luận án của NCS. Trần Thị Quyên mang lại 6 đóng góp khoa học cốt lõi:
- Xác lập hệ thống cơ sở lý luận khoa học, toàn diện và chuẩn mực về phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp, định vị rõ ranh giới giữa nghiên cứu lý luận chính sách và kỹ năng phân tích thực hành.
- Chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa chính sách (linh hồn/nội dung) và pháp luật (hình thức/phương tiện chuyển tải), khẳng định tính tất yếu của việc tách bạch giai đoạn phân tích chính sách độc lập trước khi soạn thảo văn bản luật.
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh so sánh luật học về chủ thể, quy trình và phương pháp phân tích chính sách tại 6 quốc gia đại diện cho các hệ thống thể chế chính trị - pháp lý lớn trên thế giới (Mỹ, Canada, Úc, Ba Lan, Nhật Bản, Trung Quốc).
- Phân tích sâu sắc, khách quan thực trạng thực hiện phân tích chính sách tại Việt Nam qua các giai đoạn thi hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 và năm 2015, chỉ rõ các "điểm nghẽn" về thể chế, chủ thể và dữ liệu.
- Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp đồng bộ, khả thi, bao gồm: nâng cao nhận thức thể chế, chuyên nghiệp hóa chủ thể phân tích, thành lập cơ quan thẩm định độc lập, chuẩn hóa công cụ đo lường định lượng và hoàn thiện quy trình tham vấn công chúng.
- Mở ra 3 hướng nghiên cứu mới cho khoa học pháp lý Việt Nam: Ứng dụng công nghệ dữ liệu trong phân tích dự báo lập pháp; Xây dựng mô hình định lượng hóa gánh nặng quy định; Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động sau ban hành văn bản quy phạm pháp luật.