Chương 1: Nguyên nhân Iran phát triển hạt nhân Theo Stephan Walt: “Không một quan điểm nao có thé nắm bắt được tat cả sự phức tạp của nén chính trị thé giới đương đại” [132, tr.6] Vì vậy, sự phối hợp các lý thuyết sẽ giúp phân tích tốt hơn chính sách, quyết định của các quốc gia tham gia nén chính trị thế giới đương đại. Phương pháp phân tích quan hệ quốc tế theo bốn cấp độ phân tích quan hệ quốc tế có thể được coi là phương pháp phân tích tông hợp, dựa trên sự ảnh hưởng của nhiều lý thuyết, khai thác được các điểm mạnh của các lý thuyết. Trong đó, cấp độ cá nhân chịu ảnh hưởng của thuyết kiến tạo (Constructivist), nhắn mạnh hành vi của quốc gia tạo ra bởi niềm tin của giới tỉnh hoa; cấp độ quốc gia chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa đa nguyên (Pluralism), kết hợp với yếu tổ được chủ nghĩa kiến tạo nhân mạnh (bản sắc xã hội) và xu hướng nghiên cứu tác động của chính trị trong nước đối với hành vi của quốc gia; cấp độ liên quốc gia chịu ảnh hưởng chủ yếu của chủ nghĩa hiện thực va cap độ toàn câu chịu ảnh hưởng chủ yêu của chủ nghĩa hiện thực mới. Qua quá trình phân tích theo bốn cấp độ, chúng ta có thể nhận thấy rằng các yếu tố được chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện thực mới nhắn mạnh cho thấy TÕ ràng nhất những nguyên nhân chính thúc đây chính quyền Cộng hoà Hồi giáo Iran xây dựng một chính sách phát triển hạt nhân nhạy cảm, mà theo Mỹ, Israel và nhiều nước khác, có thé dẫn tới việc Iran sở hữu vũ khí hạt nhân trong tương lai.
Tuy nhiên, kết quả quá trình phân tích chính sách hạt nhân Iran theo bốn cấp độ cũng cho thấy hai chủ nghĩa nói trên, nếu không kết hợp với các lý thuyết khác, khó có thé giải thích đầy đủ chính sách của quốc gia, mà cụ thé ở đây là chính sách hạt nhân của Iran, cũng như nên chính tri thê giới đương dai.Lãnh tụ tối cao Theo Hiến pháp Iran, Lãnh tụ tối cao, được chỉ định bởi Hội đồng chuyên gia (Assembly of Experts)', là người có quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị và tôn giáo Iran. Nhiệm kỳ của Lãnh tụ tối cao không có giới hạn về thời gian. Lãnh tụ tối cao là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Iran (quân đội, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran (IRGC), cảnh sát); có quyền tuyên bồ chiến tranh và hòa bình; có quyền bổ nhiệm các tư lệnh trong lực lượng vũ trang, người đứng đầu hệ thống tư pháp và các chánh án, giám đốc đài phát thanh và truyền hình, các vị trí đứng đầu các tổ chức tôn giáo chính, 6/12 thành viên của Hội đồng giám hộ (Guardian Council)’; có quyền quyết định cuối cùng trong việc bầu và miễn nhiệm Tổng thống, Chủ tịch Quốc hội; ngăn chặn hoặc hợp pháp hóa các dự luật thông qua Hội đồng giám hộ và Hội đồng có van (Expediency Discernment Council)’. Tuy nhiên, Lãnh tụ tối cao thường không can thiệp vào các công việc thường nhật của chính phủ, không vạch ra đường lối mà chỉ đặt ra các giới hạn cho hoạt động của chính phủ.
Từ năm 1989, sau khi Grand Ayatollah (Đại Giáo chu) Rouhollah Khomeini qua đời, vi trí Lãnh tụ tối cao của Iran do Đại Giáo chủ Ali Khamenei đảm nhận. Đại Giáo chủ Rouhollah Khomeini (1902-1989) sinh ra trong một gia đình trí thức Hồi giáo dong Shiite 6 Khomein, Iran. Năm 1944, ông đưa ra hoc thuyết về chính phủ Hồi giáo trong một cuốn sách đả kích chính sách thế tục của Hoàng dé Iran Reza Pahlavi. Tuy nhiên, vi thay của ông, Giáo chủ Borujerdi, giáo sĩ lỗi lạc và uy tín nhất của cộng đồng Hồi giáo Shiite thế hệ trước Khomeini, phản đối việc các giáo sĩ tham gia hoạt động chính tri, Khomeini đã hạn chế các hoạt động chính tri "Co quyén chỉ định, cách chức và giám sát Lãnh tụ tối cao.
? Có quyền giải thích Hiến Pháp, bác bỏ Luật được Quốc hội thông qua nếu trái với Luật Hồi giáo và Hiến Pháp; giám sát bầu cử, loại bỏ ứng cử viên Tổng thống, Quốc hội, Hội đồng chuyên gia không đủ điều kiện. 3 Có nhiệm vụ cố vấn cho Lãnh tụ tối cao, giải quyết mâu thuẫn giữa Quốc Hội Iran và Hội đồng giám hộ. Sau khi Borujerdi mất (1961), Khomeini nhanh chóng trở thành nhà thần học có uy tín hàng đầu trong cộng đồng Hồi giáo Shiite. Từ đây, ông tích cực và công khai chỉ trích các chính sách của chính quyền Pahlavi.
Năm 1963, sau bài diễn văn lịch sử tố cáo chính quyền Pahlavi ủng hộ Israel và phụ thuộc vào nước ngoài, ông bị bắt giam. Tháng 4 năm 1964, ngay sau khi được trả tự đo, ông tiếp tục chỉ trích chính sách cho binh lính Mỹ được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao của chính quyền Pahlavi. Tháng 11 năm 1964, ông bị trục xuất khỏi Iran. Trong giai đoạn sông lưu vong ở Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq và Pháp (1964-1978), ông hoàn thiện học thuyết về chính phủ Hồi giáo với nguyên tắc nền tảng là sự lãnh đạo của các nhà luật học Hồi giáo (velayat-e fagih).
Cuối năm 1978, ông kêu gọi phong trào Cách mạng Héi giáo Iran từ Pháp. Thang 2 năm 1979, ông trở về Iran và lên nắm quyền với tư cách Lãnh tụ tối cao. Với lý do VKHN không phù hợp với Luật Hồi giáo”, Khomeini quyết định ngừng CTHN của chính quyền Pahlavi. Tuy nhiên, năm 1982, ông thay đôi quan điểm, tách biệt hai vấn đề năng lượng hạt nhân và VKHN đồng thời, cho phép Iran khôi phục CTHN của triều đại Pahlavi.
Sau khi ông mắt, Iran tiếp tục CTHN dưới sự lãnh đạo của Ali Khamenei. Đại Giáo chu Ali Khamenei sinh năm 1939 tại Mashhad, Iran. Năm 1963, ông bắt đầu sự nghiệp chính tri với việc tham gia các hoạt động chống chế độ quân chủ Pahlavi. Ông là một trong những nhân vật thân cận được Khomeini giao nhiệm vụ thành lập Đảng Cộng hòa Hồi giáo (IRP) vào tháng 2 năm 1979 dé tập hợp lực lượng hỗ trợ cho Cách mạng Hồi giáo và thành lập Cộng hòa Hồi giáo Iran.
Năm 1981, ông bị thương nặng trong vụ ám sát bằng bom được giấu trong máy cát-sét. Với việc chỉ không thé sử dụng tay phải và di lại khó khăn sau vụ ám sát nói trên, ông được những người ủng hộ coi là “ánh sống” ở Iran. Trước khi trở thành Lãnh tụ tối cao, Ali Khamenei đã trải qua hai nhiệm kỳ Tổng thống (1981-1985; 1985- * Trên cơ sở viện dẫn quan điểm “chiến tranh công bằng” của đạo Hồi thời Trung Cổ, Khomeini cho rằng (sử dụng) VKHN gây ra hành động tội lỗi và bị cắm trong Luật Hồi giáo: giết hại một số lượng lớn thường dân bao gồm những người vô tội, trẻ em, phụ nữ, những người già không thể chiến đấu trong chiến tranh. Nhìn chung, Khamenei có quyền lực va uy tín lớn trong hệ thong chinh tri Iran nhưng không phải tất cả các thé lực chính tri ở Iran đều ủng hộ ông”.
Lãnh tụ tối cao Khamenei luôn kiên trì một số quan điểm về Nha nước Hồi giáo và chính trị thần quyền; về vị trí và vai trò dan đầu của Iran trong thé giới Hồi giáo; chống Israel; đối đầu với Mỹ; không tin tưởng phương Tây, đặc biệt là Mỹ; hậu thuẫn Hezbollah, “xem việc hỗ trợ cho người Palestine là một nghĩa vụ tôn giáo và Hồi giáo” [151]. Đối với Mỹ, trong thời gian Tổng thống G.Bush nắm quyền, Khamenei thể hiện quan điểm đối đầu triệt để. Tuy nhiên, sự kiện Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William J.Burns tham gia cuộc hội dam giữa Iran và EU tháng 7 năm 2008 và tuyên bố của Khamenei “sẵn sàng thay đổi chính sách nếu Mỹ thay đổi trong việc làm chứ không chi trong lời nói, thái độ với Iran” [75, tr.20] cho thấy: ông không hoàn toàn là một nhà tư tưởng cuồng nhiệt đối với hệ tư tưởng mà ông tin theo mà còn là một con người thực dụng và lý trí. Một số sự kiện khác” cũng cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Lãnh tụ tối cao Khamenei, nhiều hoạt động của lran và các nhóm chịu ảnh hưởng cua Iran, được thực hiện dựa trên các tính toán lợi ích rõ ràng, không đơn thuần dựa trên sự cuồng nhiệt tôn giáo hay tư tưởng.
Là người ủng hộ tiến bộ khoa học, Khamenei cho rằng sự phát triển của Iran phụ thuộc vào mức độ đầu tư và khả năng tự chủ của Iran trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ hạt nhân (CNHN). Theo ông, CNHN thé hiện sự tiễn bộ về mọi mặt và cần thiết cho sự phát triển kinh tế của Iran. Ông cho rằng, vi muốn ngăn chặn tiến bộ khoa học ở thé giới Hồi giáo, phương Tây đã “chính tri hóa” van dé hạt nhân Iran. Trước sự lo ngại của phương Tây đối với CTHN Iran, 5 Tháng 4 năm 1989, Lãnh tụ tối cao Khomeini chỉ dao sửa đồi Hiến pháp dé dua Khamenei vào vi tri ứng cử viên kế nhiệm ông (vào thời điểm năm 1989, Khamenei vẫn chưa phải là một Đại Giáo chủ).
Năm 1994, sau khi Đại Giáo chủ Ali Mohammad Araki qua đời, Hội giáo sĩ trường đòng Qom tuyên bố ông là Đại Giáo chủ mới. Tuy nhiên, bốn Đại Giáo chủ ở Iran (Mohammad Shirazi, Hossein Ali Montazeri, Hassan Tabatabai- Qomi va Yasubedin Rastegar Jooybari) đã từ chéi công nhận Khamenei là Đại Giáo chủ. Năm 2009, một SỐ nhân vật có thé lực ở Iran như Ali Montazeri, Rafsanjani, Mohammad Khatami. đã chỉ trích các quyết định của Khamenei liên quan đến kết qua bầu cử và các biện pháp chống biểu tình của chính phủ.
5 Tháng 5 năm 2008, Hezbollah tiến vào Beirut, Lebanon nhưng không chiếm chính quyền; Hezbollah liên minh với phe Thiên chúa giáo của Micheal Aoun ở Lebanon; Iran gián tiếp “giúp” Mỹ ổn định Iraq. 16 Khamenei nhân mạnh nếu quốc tế “công nhận quyền hạt nhân của Iran, chúng tôi sẵn sàng đối thoại về các vấn đề kiểm soát, giám sát và bảo đảm an toàn trên bình diện quốc tế” [141]. Ông cũng khang định “Iran không có ý định tìm kiếm VKHN” [150] nhưng sẽ “không từ bỏ chương trình làm giàu uranium” [193]. Năm 2005, ông đưa ra một sắc lệnh tôn giáo (fatwa) tuyên bố việc sản xuất, tàng trữ và sử dụng VKHN bị cam trong dao Hồi.
Với sắc lệnh tôn giáo nói trên, Lãnh tụ tối cao Khamenei dường như sẽ không cho phép Iran sở hữu VKHN khi ông còn đương nhiệm. Tuy nhiên, việc ông cho phép Iran xây dựng CTHN với các hoạt động nhạy cảm có thé được sử dụng cho mục đích quân sự, đang tạo ra cơ sở nên tảng cho phép Iran sản xuất VKHN trong tương lai.