chương 1 và kiểm định sự phù hợp của mô hình lý thuyết với thông tin thu thập. Đồng thời, phương pháp chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu … cũng được trình bày ở chương này. Chương này gồm 5 phần chính là: (1) Thiết kế nghiên cứu; (2) Quy trình nghiên cứu; (3) Công cụ thu thập số liệu; (4) Vùng nghiên cứu và kích thước mẫu; (5) Phương pháp phân tích dữ liệu. Thiết kế nghiên cứu Chi phí đi vay, chi phí phát sinh trong quá trình đi vay sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố.
Mô hình nghiên cứu trong luận văn chủ yếu dựa vào mô hình gốc của Trần Thọ Đạt (1998) và mở rộng thêm 02 biến mới. Bên cạnh đó, luận văn cũng sẽ thực hiện hồi quy 2 mô hình với sự thay đổi của biến phụ thuộc chi phí đi vay và tỉ lệ chi phí đi vay/ số tiền vay để kiểm định và mở rộng thêm cho đề tài về chi phí đi vay. n Mô hình tổng quát:Yi = βo + βi Xij +ei j=1 Yi là biến phụ thuộc, thể hiện chi phí đi vay của người nông dân và tỉ lệ chi phí đi vay/ số tiền vay, Xij là biến độc lập, được đo lường định lượng tùy thuộc vào nhiều yếu tố, các yếu tố đó như: tổng số tiền vay, lãi suất món tiền vay, sự ảnh hưởng của khách hàng, mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng trước đó, sự sắp xếp chính thức để cho vay, khoảng cách tới các tổ chức tín dụng, việc đi thế chấp và việc vay ngân hàng nông nghiệp hay không. Mô hình 1 của luận văn: ln TC = α0 + β1 ln r + β2 lnL + η1 INFLU + η2 PRE + ρ ARR + µ lnDIS + π1MORT + π2 AGRI.
16 Trong đó: TC = Chi phí đi vay (ngàn đồng); r= Lãi suất danh nghĩa ( %/năm); L= Số tiền vay (ngàn đồng); INFLU=Biến giả đại diện cho sự ảnh hưởng. (1 nếu người đi vay được xem là có ảnh hưởng, 0 là không có); PRE = Biến giả đại diện cho mối quan hệ với ngân hàng trước đó (1 nếu người đi vay đã có quan hệ trước đó với ngân hàng, 0 là không có); ARR = Biến giả đại diện cho sự sắp xếp chính thức để cho vay (1 nếu người đi vay cá nhân, 0 nếu người đi vay dưới dạng tổ vay vốn); DIS = khoảng cách giữ nơi cư trú của người đi vay và ngân hàng (km); MORT= Biến giả đại diện cho việc có phải đi thế chấp tài sản hay không. AGRI = Biến giả đại diện cho việc đi vay ngân hàng nông nghiệp hay không. Và mô hình 2 của nghiên cứu với sự thay đổi biến phụ thuộc chi phí đi vay bằng tỉ lệ chi phí đi vay/ số tiền vay.
lnTCL = α0 + β1 ln r + β2 lnL + η1 INFLU + η2 PRE + ρ ARR + µ lnDIS + π1MORT + π2 AGRI. Trong đó: TCL = Tỉ lệ giữa chi phí đi vay trên tổng số tiền vay. Chi phí đi vay ở lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển của hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng cũng như tăng khả năng vay vốn của các hộ nông dân tại thị xã Long Khánh. Khi tìm hiểu được các nhân tố tác động mạnh đến chi phí đi vay, các nhà quản trị có thể đề xuất các giải pháp đúng để giảm thiểu chi phí đi vay cho người nông dân, tạo điều kiện tiếp cận được nguồn vốn, gắn kết hơn giữa tổ chức tín dụng chính thức và nông nghiệp, nông thôn và nông dân.1 CÁC BIẾN PHỤ THUỘC CỦA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU KỲ VỌNG DẤU TÊN ĐO LƯỜNG BIẾN Mô hình 1 Mô hình 2 L Số tiền xin vay + + R Lãi suất danh nghĩa - + PRE Mối quan hệ với tổ chức tín dụng - - ARR Cách sắp xếp cho vay theo nhóm hay - - cá nhân DIS Khoảng cách từ nơi cư trú, sản xuất + + nông nghiệp đến tổ chức tín dụng INF Người vay tạo ảnh hưởng đối với + + nhân viên tín dụng MORT Thế chấp tài sản đảm bảo tại tổ chức + + tín dụng AGR Vay ngân hàng nông nghiệp hay vay - - các tổ chức tín dụng khác (Nguồn: nghiên cứu năm 2013) Trên cơ sở nghiên cứu và tham khảo các tài liệu liên quan, luận văn này đưa ra một mô hình nghiên cứu bao gồm 8 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chi phí đi vay ở lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn như sau: Tổng số tiền vay càng lớn thì người đi vay càng phải chịu nhiều chi phí hơn như chi phí công chứng, chi phí thế chấp, chi phí cơ hội mất đi để hoàn tất thủ tục vay cùng với nhiều loại chi phí khác nữa theo kết quả nghiên cứu của Trần Thọ Đạt (1998), Hosseini, Khaladi, Ghorbani và Brewin (2012), Virginia De Guia- Abiad (1993) và Cuevas (1984).
Luận văn kì vọng có mối quan hệ và tương quan dương cho mô hình nghiên cứu. 18 Lãi suất vay có tác động đến chi phí đi vay. Những món tiền vay có lãi suất thấp thường được người dân chú ý và yêu cầu xin vay nhiều. Do nhu cầu xin vay tăng cao nên làm cho chi phí đi vay của những món vay có lãi suất thấp phát sinh thêm như chi phí nước nôi, quà cáp cho nhân viên tín dụng, chi phí cơ hội (Trần Thọ Đạt, 1998).
Nghiên cứu của Ahmed (1982) tại Bangladesh và Cuevas (1984) tại Honduras cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Hosseini, Khaladi, Ghorbani và Brewin (2012) có mối tương quan dương giữa lãi suất và chi phí đi vay vì lãi suất vay càng lớn, lãi vay càng cao. Thêm vào đó, các dịch vụ liên quan những món tiền vay có lãi suất cao phát sinh làm cho chi phí phát sinh tăng cao. Tổng kết lại, vì luận văn dựa vào nghiên cứu của tác giả Trần Thọ Đạt nên kỳ vọng có mối tương quan âm (-) giữa 2 biến trên.
Mối quan hệ giữa nhân viên ngân hàng và khách hàng vay có ảnh hưởng tới chi phí đi vay. Theo Trần Thọ Đạt (1998), nếu người đi vay có mối quan hệ trước đó với ngân hàng thì sẽ tốn ít chi phí đi vay hơn là những người đi vay lần đầu vì người đi vay hiểu được các yêu cầu, thủ tục của ngân hàng tốt hơn và về phía ngân hàng cũng có đánh giá tín dụng tốt hơn cho những khách hàng truyền thống mà có thể bỏ qua các quá trình kiểm tra, thủ tục cho vay nhanh hơn. Cách sắp xếp cho vay, theo Trần Thọ Đạt (1998), có ảnh hưởng với chi phí đi vay. Việc đi vay theo nhóm sẽ giảm nhiều chi phí hơn đi vay theo cá nhân vì giảm được chi phí thời gian chờ đợi, chi phí kiểm tra do vay theo tổ vay vốn.
Hiện tại, ở Long Khánh hình thức vay theo nhóm, tổ vay vốn vẫn còn nhưng đã giảm nhiều, tập trung chủ yếu ở ngân hàng chính sách xã hội. Kì vọng có mối quan hệ và tương quan âm. Khoảng cách có ảnh hưởng trực tiếp đối với chi phí đi vay bởi vì khoảng cách giữa ngân hàng cho vay và nơi người dân sản xuất càng xa thì người dân càng tốn nhiều chi phí thời gian, chi phí đi lại. Có rất nhiều nghiên cứu chứng minh có mối tương quan như các tác phẩm của Trần Thọ Đạt (1998), Hosseini, Khaladi, Ghorbani và Brewin (2012), LIanto (2004),Virginia De Guia- Abiad (1993) và Adams và Nehman (1978).
Kì vọng có mối tương quan dương giữa 2 biến. 19 Sự ảnh hưởng của người vay có mối tương quan với chi phí đi vay. Theo Trần Thọ Đạt (1998), sự ảnh hưởng của người vay với nhân viên tín dụng sẽ giúp giảm thời gian và một số chi phí khác để vay được tiền. Sự ảnh hưởng không chỉ gói gọn trong việc ảnh hưởng về vị trí cấp bậc, địa vị xã hội mà còn là sự ảnh hưởng của quà tặng, vật chất của người đi vay, bởi vì ngân hàng cung cấp rất nhiều chương trình tín dụng, lãi suất vay cho từng khu vực, kì hạn vay và một số quyền lợi khác và để có những đặc quyền này thì người đi vay phải tốn chi phí như quà tặng, tiền bạc.
Việc thế chấp tài sản có mối tương quan với chi phí đi vay? Trong quá trình đi khảo sát, người đi vay cho rằng việc thế chấp tài sản cũng tốn khá nhiều tiền bạc, thời gian và làm tăng lên chi phí đi vay rất nhiều. Nghiên cứu về mối quan hệ này, Virginia De Guia- Abiad (1993) đã chứng minh là có mối tương quan dương giữa việc thế chấp tài sản và chi phí đi vay khi nghiên cứu tại Philippine. Mối quan hệ giữa ngân hàng nông nghiệp cho vay và chi phí đi vay. Đây cũng là vấn đề mở rộng của mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí đi vay.
Theo ý kiến khảo sát của người dân thì lợi thế đi vay ngân hàng nông nghiệp ở lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được số tiền lớn hơn ngân hàng chính sách xã hội nhưng lãi suất lại thấp hơn các tổ chức tín dụng khác. Việc đi vay ngân hàng nông nghiệp có mối tương quan với chi phí đi vay theo nghiên cứu của Virginia De Guia- Abiad (1993) tại Philippine. Kì vọng biến AGR, đại diện cho việc đi vay tại ngân hàng nông nghiệp có mối quan hệ và tương quan âm (-) với biến phụ thuộc. Mối quan hệ giữa các biến giải thích và hệ số chi phí đi vay/ số tiền vay: Tỉ lệ chi phí đi vay/ số tiền vay được giải thích là chi phí mà người vay phải chi ra cho một đồng tiền vay vốn.
Có rất ít nghiên cứu về sự tương quan của hệ số chi phí đi vay/ số tiền vay với các biến phụ thuộc nhưng dựa vào phân tích và kì vọng của chi phí đi vay có mối quan hệ với 8 biến giải thích và điều này cũng sẽ có ảnh hưởng đối với hệ số chi phí đi vay/ số tiền vay. Chỉ có tác phẩm “An Analysis of Transaction Costs of Obtaining Credits in Rural Iran” của Khaladi, Ghorbani và Brewin (2012) chứng minh là có sự ảnh hưởng của các nhân tố: số tiền vay, lãi suất 20 và khoảng cách và có mối tương quan dương (+) đối với hệ số chi phí đi vay/ số tiền vay. Mối tương quan giữa số tiền vay đối với tỉ lệ chi phí đi vay/ số tiền vay là tỉ lệ thuận.