CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.3 Cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại 1.1 Cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại Cấu trúc vốn (CTV) của ngân hàng thương mại (NHTM) là sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu (VCSH) và nợ phải trả được sử dụng để tài trợ cho hoạt động cấp tín dụng, kinh doanh - đầu tư và các hoạt động khác của NHTM hay nói cách khác là tài trợ cho danh mục tài sản Có của NHTM [Trần Ngọc Thơ và các cộng sự, 2007]. Nghiên cứu về CTV là nghiên cứu cách thức lựa chọn tỷ lệ phù hợp giữa VCSH và nợ phải trả nhằm giảm rủi ro, giảm chi phí sử dụng vốn và gia tăng lợi nhuận cho NHTM. Và đòn bẩy tài chính là đại diện đặc trưng cho CTV của NHTM. Đòn bẩy tài chính được định nghĩa là 1 trừ đi tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản [Monica Octavia và Rayna Brown (2008) và Reint Gropp và Florian Heider (2009)] hoặc bằng tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản của NHTM [Khizer Ali và cộng sự (2011); Sidra Amjad và cộng sự (2012)].
Như vậy, có hai thành phần đặc trưng trong CTV của NHTM là VCSH và nợ phải trả, mỗi thành phần đều có đặc điểm riêng biệt. VCSH là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM, do chủ sở hữu NHTM góp vào khi thành lập và được bổ sung trong quá trình hoạt động từ vốn góp thêm của chủ sở hữu và từ lợi nhuận của NHTM [Trầm Thị Xuân Hương và các cộng sự]. VCSH chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM nhưng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, quyết định năng lực tài chính, quy mô hoạt động và khả năng cạnh tranh của NHTM. VCSH là vốn không phải hoàn trả trong quá trình hoạt động nên VCSH là thành phần vốn có tính ổn định và thông thường được sử dụng cho mục đích dài hạn.
VCSH bao gồm: vốn điều lệ, thặng dư vốn cổ phần, các quỹ bao gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, phúc lợi, ngoài ra còn có quỹ dự phòng rủi ro tín dụng để bù đắp trong trường hợp rủi ro bất khả kháng, lợi nhuận giữ lại chưa phân phối, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- chênh lệch tỷ giá hối đoái khi chuyển đổi báo cáo tài chính và chênh lệch đánh giá lại tài sản,… - Vốn điều lệ: là số cổ phần được quyền phát hành của NHTM tại thời điểm đăng ký kinh doanh và số cổ phần phát hành thêm được ghi tại Điều lệ NHTM. Vốn điều lệ bao gồm: + Cổ phiếu phổ thông: được phân loại là VCSH, các chi phí phát sinh liên quan trực tiếp tới việc phát hành cổ phiếu phổ thông được ghi nhận là một khoản giảm trừ trong VCSH. Cổ đông phổ thông được tham gia Đại hội đồng cổ đông, nhận cổ tức theo kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM,. + Cổ phiếu ưu đãi: là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong NHTM, đồng thời cho phép cổ đông nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông phổ thông như quyền nhận cổ tức cố định trước cổ đông phổ thông,… nhưng cổ đông ưu đãi không được tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng quản trị của NHTM,.
- Thặng dư vốn cổ phần: khi nhận được vốn từ các cổ đông, phần chênh lệch giữa giá thực tế phát hành và mệnh giá của cổ phiếu được ghi nhận vào thặng dư vốn trong VCSH. - Cổ phiếu quỹ: khi NHTM mua lại cổ phiếu đã phát hành, tổng số tiền thanh toán bao gồm các chi phí liên quan trực tiếp cho việc mua lại cổ phiếu, sau khi cấn trừ các ảnh hưởng về thuế, sẽ được ghi giảm vào VCSH. Cổ phiếu mua lại được ghi nhận là cổ phiếu quỹ và được trình bày là một khoản giảm trừ trong VCSH. - Các quỹ: được sử dụng cho các mục đích cụ thể và được trích từ lợi nhuận sau thuế của NHTM dựa trên các tỷ lệ quy định; các quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng phúc lợi và các quỹ khác trích lập theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
- Lợi nhuận chưa phân phối: là lợi nhuận sau thuế chưa chia cho chủ sở hữu. Là phần thu nhập ròng của NHTM có được từ hoạt động kinh doanh nhưng chưa chia cho các cổ đông mà được giữ lại để tiếp tục đầu tư cho hoạt động kinh doanh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- Lợi nhuận giữ lại nhiều hay ít phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, chính sách phân chia lợi nhuận của NHTM. Đây là nguồn vốn rất quan trọng đối với các NHTM đang ở giai đoạn tăng trưởng, cần nhiều nguồn vốn để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh.
- Chênh lệch tỷ giá: bao gồm chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản chưa hoàn thành được hạch toán vào VCSH theo quy định của pháp luật và chênh lệch tỷ giá phát sinh khi NHTM hợp nhất BCTC các hoạt động của NHTM ở nước ngoài mà sử dụng đơn vị tiền tệ kế toán khác với đơn vị tiền tệ kế toán của NHTM. - Chênh lệch đánh giá lại tài sản là chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của tài sản với giá trị đánh giá lại tài sản khi có quyết định của Nhà nước, hoặc khi đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, cổ phần. Nợ phải trả là những khoản mà NHTM phải có trách nhiệm hoàn trả theo thời hạn đã thỏa thuận. Ta có thể phân chia nợ phải trả thành nợ phải trả ngắn hạn và nợ phải trả dài hạn.
- Nợ phải trả ngắn hạn: là những khoản nợ mà NHTM có trách nhiệm hoàn trả trong vòng một năm. Nợ phải trả ngắn hạn thường có chi phí sử dụng thấp nhưng tạo ra áp lực thanh khoản đối với NHTM. Nợ phải trả ngắn hạn bao gồm: tiền gửi thanh toán của Kho bạc Nhà nước, các khoản nợ NHNN, tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng (TCTD) khác dưới 1 năm, tiền gửi và các khoản phải trả khách hàng dưới 1 năm, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, kỳ phiếu NHTM,… - Nợ phải trả dài hạn: là những khoản nợ mà NHTM có trách nhiệm hoàn trả trong thời gian lớn hơn 1 năm. Nợ phải trả dài hạn thường được sử dụng để cho vay và đầu tư dài hạn, bao gồm: tiền gửi và vay các TCTD khác trên 1 năm, tiền gửi và các khoản phải trả khách hàng kỳ hạn trên 1 năm, chứng chỉ tiền gửi dài hạn, trái phiếu tăng vốn, tín phiếu NHTM, vốn nhận từ Chính phủ, các tổ chức quốc tế và các tổ chức khác, nợ phải trả khác kể cả thuế chưa nộp,.
Khi phân tích nợ phải trả dưới góc độ nguồn vốn kinh doanh, chia nợ phải trả thành vốn huy động và vốn khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- - Vốn huy động: là tài sản thuộc các chủ thể khác nhau, nguồn vốn này không thuộc quyền sở hữu của NHTM, nhưng NHTM được quyền sử dụng trong thời gian huy động, có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn đối với tiền gửi có kỳ hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn tiền gửi không kỳ hạn, bao gồm: tiền gửi và các khoản phải trả khách hàng, phát hành giấy tờ có giá, tiền gửi và vay các TCTD khác và vay NHNN, vốn huy động chia thành vốn huy động trong nền kinh tế (tiền gửi của khách hàng và phát hành giấy tờ có giá) và vốn vay các TCTD khác và NHNN. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM, là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của NHTM. Hiện nay, NHTM huy động vốn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại công cụ nợ khác.
Nhưng nguồn vốn này rất dễ biến động nên NHTM không được phép sử dụng hết số vốn huy động trong nền kinh tế vào mục đích kinh doanh mà phải tuân thủ các quy định về dự trữ bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh toán. Ngoài ra khi thiếu hụt thanh khoản tạm thời trong hoạt động kinh doanh, NHTM có thể vay từ các chủ thể khác như vay các TCTD khác trong nước và ngoài nước, vay ngắn hạn NHNN. - Vốn khác: khi NHTM đi vào hoạt động tạo điều kiện phát sinh các nguồn vốn khác ngoài nguồn vốn huy động, chẳng hạn: vốn tài trợ, ủy thác từ các chủ thể trong và ngoài nước; vốn chiếm dụng phát sinh từ dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ thanh toán quốc tế, đại lý kiều hối; vốn điều hòa trong hệ thống NHTM điều tiết nguồn vốn từ chi nhánh thừa vốn sang chi nhánh thiếu vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, cân đối vốn trong toàn bộ hệ thống NHTM, đảm bảo thanh khoản,. Như vậy, nợ phải trả khác với VCSH ở điểm là phải cam kết hoàn trả cho chủ nợ khi đến hạn, còn VCSH thì NHTM không phải hoàn trả; một lý do khác nữa là khi hoạt động kinh doanh kém hiệu quả NHTM vẫn phải trả đầy đủ lãi cho chủ nợ, còn VCSH thì NHTM có thể không chi trả cổ tức cho cổ đông khi NHTM hoạt động kinh doanh kém hiệu quả; và trong trường hợp xấu nhất là phá sản NHTM thì TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- chủ nợ được ưu tiên thanh toán trước cổ đông nhưng cổ đông được tham gia vào các công việc điều hành, quản lý NHTM, còn chủ nợ thì không.
Tóm lại, NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt là “tiền tệ”. Với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay” cho nên nguồn vốn đối với NHTM lại càng có vai trò hết sức quan trọng, trong đó nợ phải trả chiếm phần lớn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, còn VCSH chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp. Tuy nhiên, NHTM càng gia tăng sử dụng nợ phải trả để tài trợ cho nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh thì rủi ro càng gia tăng. Do vậy, xác định CTV cho NHTM là xác định đòn bẩy tài chính phù hợp.