chương 1 cũng đã giới thiệu tổng quan về luận văn trong đó đã cho người đọc thấy rõ được mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu cũng như cấu trúc của luận văn. 4 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về nông hộ và tín dụng nông hộ 2.1 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp Theo Lê Văn Tề (2009) đã nêu lên đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là lãnh vực sản xuất ra những sản phẩm tối cần thiết của xã hội. Không có những sản phẩm đó xã hội sẽ không tồn tại và phát triển. Sản xuất nông nghiệp là lãnh vực đầu tiên có trên trái đất này nhưng quá trình phát triển đã gặp nhiều khó khăn, vì vậy tốc độ phát triển của nông nghiệp rất chậm so với ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu. Người sản xuất trong ngành nông nghiệp chưa thể khắc phục những bất lợi của thiên nhiên đem đến cho mình. Do vậy, kết quả sản xuất không chắc chắn như ngành công nghiệp và dịch vụ. Việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp bị hạn chế về mặt số lượng.
Mặc dù sản phẩm nông nghiệp là cần thiết cho cuộc sống con người. Song con người không thể tiêu thụ nó nhiều hơn mức mà sức khỏe và sinh lý cho phép. Do vậy trong khi sản phẩm xuất hiện nhiều trên thị trường thì giá cả hạ rất nhanh. Và khi sản phẩm thiếu hụt trên thị trường giá cả sản phẩm cũng tăng rất nhanh.
Điều đó gây khá nhiều khó khăn cho người sản xuất. Khi được mùa nông dân phải bán rất rẻ, khi mất mùa lại được bán giá cao. Do vậy các nước trên thế giới thường bảo vệ sản xuất nông nghiệp luôn được phát triển qua hình thức trợ giá cho nông dân để người nông dân có thể duy trì và phát triển sản xuất được. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất trong nông nghiệp là rất khó.
Đó có thể gia tăng được một lượng sản phẩm hàng năm trong sản xuất nông nghiệp khó khăn nhiều lần so với sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Lý do chủ yếu là do đối tượng sản xuất nông nghiệp có quy luật phát triển riêng mà con người không thể một sớm một chiều làm thay đổi quy luật phát triển của nó được. Thậm chí việc áp dụng 5 khoa học kỹ thuật vào lãnh vực này có sự sai lầm dẫn đến nhiều hậu quả khó lường như: sự mất cân bằng sinh thái, chất lượng sản phẩm bị sụt giảm. Nói khác đi thu nhập của sản xuất nông nghiệp tăng chậm hơn các ngành công nghiệp, dịch vụ.
Sản xuất nông nghiệp rất phân tán, quản lý khó khăn do sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng, lại sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau, tính chuyên môn hóa thấp. Sản xuất theo hình thức xen canh, theo mùa vụ nên việc quản lý nông nghiệp là rất phức tạp, khó theo dõi chặt chẽ để xử lý kịp thời các tình huống xảy ra như sâu rầy, lũ lụt … ngay cả việc bảo quản sản phẩm thu hoạch cũng gặp nhiều khó khăn như công cụ sơ chế, kho dự trữ, bến bãi … vì vậy mà chi phí này cũng tăng lên cao và làm giảm lợi nhuận của nhà sản xuất.2 Khái niệm nông hộ Theo Lê Văn Tề (2009) khái niệm hộ nông dân trong nền kinh tế Việt Nam được hiểu là một gia đình có tên trong một bản kê hộ khẩu riêng, gồm có một người làm chủ hộ và các người cùng sống trong hộ gia đình ấy. Về mặt kinh tế, hộ gia đình có một mối quan hệ gắn bó không phân biệt về mặt tài sản, những người chung sống trong một hộ gia đình có nghĩa vụ trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế. Nghĩa là mỗi một thành viên đều phải có nghĩa vụ xây dựng và phát triển kinh tế của hộ và có trách nhiệm đối với kết quả sản xuất đạt được.
Nếu sản xuất có hiệu quả cao sản phẩm thu hoạch được người chủ hộ phân phối trước hết nhằm bù đắp các chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụ với nhà nước theo quy định, phần thu nhập còn lại được sử dụng để trang trải cho các mục tiêu sinh hoạt thường xuyên của gia đình và phát triển sản xuất. Nếu kết quả vẫn không khả quan, người chủ hộ chịu trách nhiệm cao nhất và các thành viên trong hộ cũng phải chịu trách nhiệm chung, chia sẻ trách nhiệm với chủ hộ. Thực chất, hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam là những người gắn bó máu mủ huyết tộc. Người chủ hộ thường là người cha (mẹ) và các thành viên con cái trong gia đình đó.
6 Hộ nông dân Việt Nam giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Đặc điểm của hộ nông dân Việt Nam là gắn bó, có tính chất truyền thống cả hai mặt vật chất kinh tế và tinh thần, có quyền lợi cùng hưởng và có khó khăn cùng chịu.2 Rủi ro tín dụng và rủi ro tín dụng nông nghiệp 2.1 Khái niệm tín dụng Theo Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thái xã hội khác nhau. Hiểu một cách thông thường nhất, tín dụng là sự vay mượn. Theo quan niệm truyền thống, tín dụng là mối quan hệ trong đó một người chuyển qua người khác quyền sử dụng một lượng giá trị hoặc hiện vật nào đó với những điều kiện nhất định mà hai bên thỏa thuận.2 Vài nét về tín dụng nông nghiệp nông thôn Theo Lê Văn Tề (2009) cho rằng tín dụng nông nghiệp chủ yếu là tín dụng chi phí sản xuất, tức là các khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho nông dân để trang trải chi phí về cây trồng, gia súc, thức ăn gia súc, phân bón, thuốc trừ rầy, trị bệnh gia súc, chi phí ngày công lao động … ngoài ra tín dụng nông nghiệp còn bao gồm các khoản cho vay trung, dài hạn để cải tạo đồng ruộng, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, xây dựng kho, cơ sở chế biến … Tín dụng nông nghiệp giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là đối với nông nghiệp Việt Nam hiện nay.
Tín dụng nông nghiệp là trung gian thu hút vốn và tài trợ vốn của ngân hàng thương mại. Một ngân hàng thương mại hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn giữ vị trí trung gian thể hiện qua chức năng thu hút vốn và cho vay. Khi người nông dân thu hoạch và tiêu thụ được sản phẩm, người nông dân đó thừa tiền, chưa biết đầu tư vào đâu. Ngân hàng thương mại sẽ là tổ chức sẵn sàng tiếp nhận các nguồn vốn nhàn 7 rỗi đó dưới các hình thức ký thác.
Điều đó giúp người nông dân sử dụng tài khoản chính tạm thời nhàn rỗi của họ để sinh lợi và được dự trữ an toàn cho việc sử dụng sau này. Nhưng điều đáng nói hơn nữa là khi người nông dân cần đến vốn để phục vụ cho việc tiến hành sản xuất thì các ngân hàng thương mại là người bạn đắc lực của nông dân. Ngân hàng thương mại là người cung cấp các khoản tài chính cho nông dân để mua sắm tư liệu sản xuất, trả công lao động kịp thời vụ. Không có sự tài trợ này, người nông dân có thể gặp khó khăn về tài chính, nhiều khi phải đi vay nặng lãi hoặc không thể tiến hành sản xuất được.
Trong vai trò trung gian này, ngân hàng thương mại thực sự là người bạn của nông dân, giúp đỡ nông dân mở rộng quy mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật, huy động các nguồn nhân lực vào quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp với năng suất và chất lượng cao hơn trước đó. Tín dụng nông nghiệp là trung gian giữa sản xuất nông nghiệp với ngành sản xuất khác. Bản thân của sản xuất ở tất cả các ngành đều được tiến hành theo chu kỳ cụ thể. Trong chu kỳ sản xuất đó có lúc nhu cầu vốn tăng lên rất cao, có lúc lại giảm xuống.
Điều này đòi hỏi có một sự điều tiết kịp thời giúp các nhà sản xuất giải tỏa phần vốn thừa và cung cấp phần vốn thiếu. Giữa sản xuất nông nghiệp và các ngành sản xuất khác cũng có nhu cầu điều tiết vốn như đã nói ở trên, và chính điều này, nó nối kết sản xuất nông nghiệp với các ngành sản xuất khác một cách chặt chẽ hơn. Công nghiệp và dịch vụ là những ngành sản xuất tiêu thụ sản phẩm của nông nghiệp dưới dạng tư liệu sản xuất. Nếu sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn thì sản xuất công nghiệp và dịch vụ cũng gặp khó khăn theo.
Do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp, nên tín dụng nông nghiệp cũng có đặc điểm riêng. Vào vụ thu hoạch, tín dụng nông nghiệp chủ yếu là phục vụ cho thu mua, tiêu thụ hàng hóa do ngành nông nghiệp sản xuất ra. Điều này cho phép sử dụng hình thức tín dụng gián tiếp. Các tổ chức tín dụng có thể cho vay các tổ chức tiêu thụ hàng 8 hóa như thương nghiệp, công nghiệp để những tổ chức này mở rộng khả năng dự trữ hàng hóa do ngành nông nghiệp sản xuất ra.
Trong điều kiện này, các tổ chức tín dụng đồng thời là người phát vốn ra cho các tổ chức tiêu thụ, đồng thời là người thu hút nguồn vốn từ nông dân. Vào vụ sản xuất, tổ chức tín dụng là người trực tiếp phát tín dụng cho người nông dân khi người nông dân cần vốn. Nguồn vốn để cung cấp cho nông dân vào vụ sản xuất có thể phải tìm kiếm ở các ngành sản xuất khác chứ không phải trong nội bộ ngành nông nghiệp. Điều quan trọng là phải có sự kết hợp chặt chẽ giữ các ngành sản xuất để tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển.
Sản xuất nông nghiệp giữ vai trò sản xuất cơ bản nên luôn luôn đòi hỏi ở các ngành sản xuất khác một sự tài trợ nhất định. Trong đó, ngân hàng làm trung gian môi giới cho quá trình kết hợp này. Sự đầu tư của các ngành công nghiệp chế biến luôn luôn phải quan tâm đến đầu tư sản xuất ra nguyên liệu. Trong đó, ngân hàng giữ vị trí trung gian để đưa hàng hóa từ nông nghiệp vào sản xuất công nghiệp và ngược lại.
Tín dụng nông nghiệp thúc đẩy sản xuất hàng hóa ở nông thôn. Sản xuất nông nghiệp chỉ có thể phát triển khi nào nó được chuyển qua sản xuất hàng hóa. Sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra được trao đổi với các ngành sản xuất khác phục vụ cho sản xuất công nghiệp, tiêu dùng ở các đô thị và xuất khẩu ra nước ngoài.