Chương 1: Giới thiệu đối tượng nghiên cứu, tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết về CTK, mỏi của cọc thép trong CTK, tương tác giữa mố móng và đất nền dưới tác động của nhiệt độ thay đổi có tính tuần hoàn. Chương 3: Phân tích tham số nghiên cứu bằng chương trình ANSYS. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: Nhận xét, đánh giá và rút ra kết luận về ảnh hưởng của nhiệt độ tác động nhiệt thay đổi, có xét đến tính chất lặp lại tới ứng suất và biến dạng của mố, móng cọc và dầm.
Đồng thời đề nghị định hướng nghiên cứu tiếp sau nghiên cứu này. HV: Nguyễn Văn Toản MSHV: 7140679 –4– CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẦU TOÀN KHỐI 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ Cầu toàn khối (CTK) được manh nha từ cuối của thế kỷ XX, đã trở nên ngày một phổ biến trên thế giới. Cầu toàn khối đang được xem xét như là một lựa chọn phù hợp để thay thế một số dạng cầu truyền thống bởi vì những lợi ích về kỹ thuật và kinh tế mà CTK mang lại (Peter Collin et al, International Workshop on IABs, 2006). Sự ảnh hưởng của nhiệt độ theo ngày, theo mùa lên CTK như là một nguyên nhân gây ra tải trọng chu kỳ do kết cấu biến dạng khi nhiệt độ thay đổi.
Kết quả này ảnh hưởng đáng kể trong sự tương tác giữa đất-kết cấu của CTK, đặc biệt là nó có thể gây ra lực lên đất phía sau mố vượt quá giới hạn cho phép, hoặc làm giảm tuổi thọ và phá hoại mỏi cọc móng theo thời gian [1][20][25]. 1 CTK được xây dựng tại Nova Scotia, Canada Bên cạnh đó, sự hiểu biết về ứng xử của kết cấu CTK hiện nay là chưa đầy đủ. Điều này do tính phức tạp của tổng thể CTK và chúng cần được nghiên cứu một HV: Nguyễn Văn Toản MSHV: 7140679 –5– cách rõ ràng trong đó cần cân nhắc nghiên cứu sự tương tác giữa đất và kết cấu (Peter Collin et al, International Workshop on IABs, 2006). Các sơ đồ tính toán khi đưa vào áp dụng đều kèm theo các giản ước nhất định không thể bao quát được hết các yếu tố nhiều mặt trong thực tiễn và các số liệu tổng kết từ những công trình cụ thể cũng không thể đại diện được hết mọi điều kiện thực tiễn.
Chính vì vậy các kết luận chưa thể là bao quát chung cho mọi trường hợp. Dựa trên những tài liệu nghiên cứu được, vấn đề mỏi của kết cấu CTK dưới ảnh hưởng của nhiệt độ là điều cần được quan tâm, đặc biệt là trong điều kiện nhiệt độ thay đổi phức tạp. Nhiều nghiên cứu nhấn mạnh rằng ứng suất xuất hiện trong cọc đều chịu ảnh hưởng của tính chất có chu kỳ của nguyên nhân tác động. Mặc dù vậy, chưa có nghiên cứu toàn diện nào xem xét về mối quan hệ giữa mỏi trong cọc CTK và chu kỳ tác động của nhiệt độ trong điều kiện của Nam Bộ, Việt Nam.
Kể cả trong tiêu chuẩn thiết kế cầu AASHTO LRFD cũng chưa đề cập đến trường hợp tải trọng nhiệt trong tổ hợp TTGH về mỏi.2 Dạng CTK một nhịp trên hệ móng cọc một hàng học Hình 1.3 Dạng CTK một nhịp không sử dụng móng cọc HV: Nguyễn Văn Toản MSHV: 7140679 –6– 1.2 CẦU MỐ TOÀN KHỐI Đối với cầu truyền thống một nhịp giản đơn cho phép xoay tự do đầu cầu. Khe co dãn và gối thường được sắp xếp để cho phép biến dạng dọc và đôi khi theo hướng ngang của cây cầu do sự thay đổi nhiệt độ. Khi kết cấu phần trên của CTK được ngàm chặt vào kết cấu phần dưới, tất cả các chuyển vị tịnh tiến và xoay của kết cấu phần trên được truyền tới kết cấu phần dưới. Cầu truyền thống Cầu toàn khối Hình 1.
4 Bố trí kết cấu của cầu truyền thống và CTK Do nhiệt độ tăng lên Do nhiệt độ giảm (hoặc hoạt tải) Hình 1. 5 Xu thế biến dạng của CTK một nhịp do nhiệt độ thay đổi Trong biến dạng do nhiệt, mố cầu chuyển dịch vào đất đắp, phản lực của đất tác động lên mố là áp lực đất bị động. Những chuyển vị của kết cấu phần trên bị hạn chế bởi độ cứng của mố cầu và do áp lực đất tác động lên mố cầu. Điều này gây ra một sự tương tác của kết cấu phần trên, kết cấu phần dưới và đất xung quanh.
HV: Nguyễn Văn Toản MSHV: 7140679 –7– Cầu truyền thống Cầu toàn khối Hình 1. 6 Sơ đồ hình học và sơ đồ tính của cầu truyền thống và CTK một nhịp 1.1 Thuận lợi và khó khăn của cầu mố toàn khối Những thuận lợi được đúc kết từ việc xây dựng cầu toàn khối ở các nước khác như: Loại bỏ hoàn toàn khe biến dạng và gối cầu; đơn giản hóa kết cấu phần dưới; nhanh hơn và đơn giản hóa quá trình xây dựng; giúp thanh mảnh hơn kết cấu phần trên; giảm chiều dài và độ dốc đường dẫn lên cầu; lái xe êm thuận; loại bỏ các chi tiết có vấn đề như khe biến dạng. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố thuận lợi thì có một số khó khăn như: Tăng lực tương tác giữa đất và mố có thể gây nứt mố; nứt trong kết cấu áo đường phía sau mố dẫn tới nứt bản quá độ; một số vấn đề về ứng suất biến dạng chưa nghiên cứu rõ dưới ảnh hưởng của nhiệt độ; vấn đề liên quan đến thi công trong điều kiện phức tạp. Tổng quan về phương diện thi công, khai thác, CTK được đánh giá là đơn giản, tuy nhiên do tính đặc thù của tính làm việc “toàn khối” mà khi nghiên cứu sâu các yếu tố ảnh hưởng đến loại công trình này có một số vấn đề khó khăn, đánh giá và không dễ để đưa ra được một thiết kế nào phù hợp chung cho nhiều điều kiện tự nhiên khác nhau.
Các vấn đề chủ yếu tác động đến CTK mà cần nghiên cứu đánh giá kỹ lưỡng gồm: HV: Nguyễn Văn Toản MSHV: 7140679 –8– - Các tác động liên quan đến môi trường: nhiệt độ, độ ẩm, từ biến, co ngót, lún. - Mối tương tác giữa đất và kết cấu: tương tác giữa đất đầu cầu và tường mố, tương tác giữa đất nền và cọc. - Độ dẻo của kết cấu bên dưới: vấn đề về cọc móng, tỷ lệ độ cứng giữa kết cấu phần trên và kết cấu phần dưới. - Các phương án về hệ thống móng mố.
- Các vấn đề liên quan tới tải trọng có chu kỳ. - Các yếu tố hình học của cầu trên đường: độ chéo, độ cong, độ dốc. - Các vấn đề liên quan đến cấu tạo: liên quan tới liên tục hóa các dầm chủ, cấu tạo tại mố, tường cánh, nền đắp, chốt liên kết, chi tiết phụ trợ,. - Các vấn đề về liên quan đến thi công trong điều kiện phức tạp.2 Vật liệu của cọc trong cầu toàn khối Trên quan điểm tạo được độ dẻo tối đa cho hệ mố cầu nên cọc thép được áp dụng rộng rãi trong các CTK ở Hoa Kỳ (tiêu biểu là cọc thép chữ H cánh rộng, ống thép nhồi bê tông).
Bên cạnh đó, cọc bê tông cũng được sử dụng nhưng không phổ biến bằng cọc thép, chỉ áp dụng khi chuyển dịch ở mố nhỏ (Precast/Prestressed Integral Bridge USA, 2001). Cọc thép có tính năng phù hợp hơn nhưng vấn đề chống rỉ cho cọc thép là phức tạp và tốn kém hơn nhiều so với cọc bê tông. Tuy vậy, việc sử dụng cọc bằng ống thép nhồi bê tông cũng bắt đầu đã áp dụng tại nhiều nước, khi thiết kế cọc cần tính đến chiều dày ăn mòn dự phòng [2] [11]. Vì vậy, vấn đề đưa ra là giải pháp thiết kế nào để đảm bảo cọc không chịu uốn quá mức, trong phạm vi đầu cọc đủ độ dẻo khi uốn, bên cạnh việc đảm bảo điều kiện va đập, xung kích khi thi công đối với cọc đóng.
Trong một nghiên cứu của Kamel và cộng sự có đề cập đến điều chỉnh bước xoắn cốt đai làm ảnh hưởng tới độ dẻo khi uốn của cọc BTCT DƯL 30x30cm [8]. HV: Nguyễn Văn Toản MSHV: 7140679 –9– Hình 1. 7 Kết quả thí nghiệm tải trọng/biến dạng cho cọc thép và bê tông (Kamel) 1.3 TƯƠNG TÁC GIỮA ĐẤT VÀ MỐ, CỌC CẦU TOÀN KHỐI Mối tương tác giữa đất và móng-mố có ảnh hưởng lớn tới sự làm việc của CTK. Đồng thời, đó lại là điều khó dự đoán nhất vì phản lực đất là hàm số không tuyến tính của độ dịch chuyển và hình dáng biến dạng của tường mố.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tương tác đất/móng-mố bao gồm tường mố, cọc và cách bố trí cọc, tường cánh, bản lên cầu, đặc trưng của đất (đầu tiên là độ cứng của đất), độ dịch chuyển tổng cộng, và độ cứng của kết cấu nhịp. Độ dịch chuyển của móng-mố là kết quả của hai tác động: dịch chuyển do nhiệt của kết cấu nhịp và sự dãn nở thể tích cọc có liên quan tới nhiệt độ. Dãn dài của cầu đẩy mố dịch chuyển về phía nền đất đắp, tác động tới áp lực đất lên mố, lên cọc, lên tường mố và tường cánh và làm dịch chuyển bản quá độ. HV: Nguyễn Văn Toản MSHV: 7140679 – 10 – Hình 1.
8 Chuyển vị của mố do tác động của gradient nhiệt và độ lệch tâm giữa áp lực đất và lực dọc trục trong kết cấu nhịp Áp lực của đất lên mố là yếu tố luôn được quan tâm nghiên cứu vì nó quyết định sự chống đỡ dịch chuyển và xoay chuyển của mố và cũng là thông số để thiết kế tường mố. Áp lực đất tính quá lớn là không an toàn, nếu khi thiết kế xét tới tác dụng ngược chiều của áp lực đất đối với mô men do tĩnh tải và hoạt tải gây ra trong kết cấu bên trên. Tính quá thấp cũng có thể ảnh hưởng tới độ an toàn của cấu tạo tường mố. Vì áp lực đất phụ thuộc và sự biến dạng của tường mố, phân bố của áp lực trên mố thực chất không phải là tuyến tính như thường giả định để giản đơn hóa thiết kế.
Nghiên cứu cho thấy để áp lực đất phát huy tới mức hoàn toàn bị động, chuyển dịch tại mố phải đạt tới mức bằng 1~4% chiều cao của tường mố (tùy đặc điểm của đất), cũng có nghĩa là áp lực đó phụ thuộc vào tỷ lệ da/Ha (da là dộ dịch chuyển và Ha là chiều cao mố). Với chiều cao mố khoảng 2.50m của CTK thông thường và độ dịch chuyển quy định là 2. Khuyến cáo nên hạn chế phát huy áp lực đất ở mức 2/3 mức bị động hoàn toàn để quy định chiều dài hạn chế của cầu và có thể bỏ qua không xét tới áp lực đất trong thiết kế cầu nhiều nhịp và cầu một nhịp ngắn (Burke, 1995).