MỞ ĐẦU Trong xây dựng công trình ngầm hiện nay, hầm tròn đào ngang là dạng phổ biến nhất. Trong trường hợp này, do việc khai đào, trạng thái ứng suất biến dạng trong môi trường xung quanh thay đổi và ảnh hưởng đáng kể lên khả năng ổn định của công trình. Trạng thái ứng suất biến dạng trong môi trường xung quanh không những phụ thuộc vào môi trường đất đá, độ chôn sâu, trạng thái ứng suất nguyên sinh, hình dạng gương đào mà còn phụ thuộc vào kích thước công trình. Đề tài “Phân tích ảnh hưởng của kích thước hầm tròn đào ngang lên ứng xử môi trường xung quanh” được chọn lựa nhằm phân tích yếu tố kích thước công trình ảnh hưởng lên đặc điểm phân bố ứng suất và biến dạng trong môi trường đất đá theo điều kiện công trình và địa chất đặc trưng của khu vực Tp.
Hồ Chí Minh. Kết quả phân tích đánh giá của luận văn giúp chọn lựa cấu kiện vỏ chống hợp lý theo kích cỡ công trình. Điều này có ý nghĩa thực tiễn trong xây dựng các loại hình công trình chôn sâu như: đường dây ngầm, các hệ thống ống cấp thoát nước hay các công trình tương tự. Phương pháp nghiên cứu được chọn lựa cho luận văn bao gồm: - Tổng hợp các phương pháp cơ bản đánh giá trạng thái ứng suất biến dạng trong môi trường xung quanh công trình hầm tròn đào ngang.
- Tính toán đánh giá kết hợp mô phỏng bằng phần mềm Phase 2. Việc tính toán phân tích trên cơ sở môi trường đàn hồi, đàn hồi dẻo – lý tưởng. Ở đây, việc tính toán bằng giải tích được thực hiện nhờ phần mềm Excel và mô phỏng bằng phần mềm chuyên dụng Phase 2. Mục tiêu của đề tài: từ kết quả tính toán và phân tích theo phương pháp tính toán giải tích và mô phỏng bằng phần mềm rút ra các nhận định về chuyển vị đường viền và sự phát triển của vùng dẻo theo kích thước và độ sâu của công trình.
Điều kiện địa chất lấy theo địa chất đặc trưng của khu vực Tp. Hồ Chí Minh. TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT BAN ĐẦU VÀ ỨNG XỬ ỨNG SUẤT – BIẾN DẠNG QUANH HẦM TRÒN ĐÀO NGANG 1. TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT BAN ĐẦU 1.
Định nghĩa và các yếu tố ảnh hưởng Trạng thái ứng suất nguyên sinh(TTƯSNS) còn gọi là trạng thái ứng suất cơ bản, là trạng thái tồn tại ứng suất của khối đất đá trước khi khối đất đá chịu tác động kĩ thuật của con người. Trong cơ học công trình ngầm, TTƯSNS có ý nghĩa cơ bản trong nghiên cứu, dự báo các biến đổi cơ học trong khối đất đá khi khai thác khoáng sản cũng như xây dựng công trình: Trước khi tiến hành xây dựng công trình phải tách bóc, lấy đi một phần vật chất ban đầu của khối đất đá. Do đó, dẫn tới sự phân bố lại tải trọng cũng như áp lực, nghĩa là biến đổi TTƯSNS. TTƯSNS được sử dụng như là điều kiện ban đầu và là điều kiện biên nghiên cứu, dự báo các quá trình biến đổi cơ học.
Nói chung, TTƯSNS thường không đồng nhất, nghĩa là các thành phần ứng suất đều là các hàm số của tọa độ. Những yếu tố cơ học cơ bản ảnh hưởng tới quy luật phân bố các trạng thái ứng suất trong khối đất đá: Ngoại lực, gồm có trọng lực hay lực trọng trường (lực khối) và lực kiến tạo (lực mặt). Các tính chất cơ học của khối đất đá. Ngoài ra, còn có các quá trình hình thành và biến đổi đã và đang xảy ra trong khối đất đá, điều kiện địa chất (các đặc điểm cấu trúc của khối đất đá), điều kiện địa chất thủy văn, điều kiện địa hình, địa mạo.
Khảo sát một phân tố thể tích bất kì trong khối đất đá trong hệ trục vuông góc, z là trục thẳng đứng theo chiều của trọng lực. Trong trường hợp tổng quát, có 6 thành phần ứng suất (vì có 3 thành phần đối xứng). Khi xác định được 6 thành phần ứng suất tại một -3- điểm bất kì trong khối đất đá hoàn toàn có thể xác định được các ứng suất pháp tuyến chính và hệ trục chính. Các thành phần ứng suất tại một điểm của khối đất đá Trong thực tế, tùy theo yêu cầu và điều kiện cụ thể mà có thể xác định gần đúng TTƯSNS.
Hai nhóm phương pháp đang được sử dụng hiện nay là phân tích lý thuyết và đo đạt thực tế. Phân tích lý thuyết trạng thái ứng suất nguyên sinh 1. Khái quát trạng thái ứng suất nguyên sinh Cho đến nay, việc xác định trạng thái ứng suất nguyên sinh bằng lý thuyết gặp nhiều khó khăn. Bằng phương pháp giải tích, chưa mô phỏng được các yếu tố khác thường như lực kiến tạo, ảnh hưởng của các quá trình biến đổi địa chất.
Các vấn đề được phân tích sau đây được hình thành xuất phát từ giả thiết đơn giản về một số dạng cấu trúc của khối đất đá và chỉ chú ý đến lực trọng trường. Đương nhiên, do các yếu tố này tồn tại tự nhiên, khách quan, nên các kết quả phân tích vẫn có ý nghĩa tổng quát. -4- Với giả thiết chỉ có tác dụng của trọng lực, mặt đất là bằng phẳng, khối đất đá là đồng nhất, trục z là trục thẳng đứng kể từ mặt đất, khi đó các thành phần ứng suất trên mặt phẳng (x,y) ở độ sâu z bất kỳ trong khối đất đá, không phụ thuộc vào tọa độ x,y; các trục x,y,zđồng thời là các trục ứng suất chính (hình 1. Sơ đồ đơn giản xác định trạng thái ứng suất nguyên sinh Từ phương trình cân bằng d z .dz , dễ dàng xác định được thành phần ứng suất z theo biểu thức: z .1) Trong đó:- khối lượng thể tích trung bình của khối đất đá.
g - gia tốc trọng trường.g - trọng lượng thể tích của khối đất đá. Khi khối đất đá có đặc điểm không đồng nhất theo chiều sâu nhưng lại đồng nhất trong mặt phẳng (x,y), từ phương trình cân bằng theo phương z trên hình 1.2b có thể xác định được thành phần ứng suất theo phương thẳng đứng qua biểu thức: z (1.dz 0 -5- Rõ ràng, với các giả thiết đã nêu và chỉ chú ý đến trọng lực, thành phần ứng suất theo phương thẳng đứng tăng theo độ sâu kể từ mặt đất.2b minh họa quy luật biến đổi của z cho trường hợp khối đất đá đồng nhất. Vì mỗi điểm trong khối đất đá được bao quanh bởi các điểm vật chất tương tự nếu coi khối đất đá là môi trường liên tục và mặt phẳng (x,y) là vô hạn nên biến dạng ngang của mọi phân tố đều bị cản trở (Hình 1. Điều đó có nghĩa là: x y 0 (1.3) Biến dạng ngang bị cản trở sẽ hình thành các thành phần ứng suất theo phương nằm ngang x , y (có thể tưởng tượng là các ứng suất cần thiết để đưa phân tố với các giá trị biến dạng ngang nhất định về trạng thái không có biến dạng ngang).
Với giả thiết đã nêu và khối đất đá là đồng nhất, đẳng hướng, đương nhiên nhận được: x y (1.4) Như vậy, chú ý riêng đến tác dụng của trọng lực (lực trọng trường), dễ dàng xác định được z theo (1. Trong trường hợp này, các thành phần ứng suất theo phương nằm ngang thường được định nghĩa theo biểu thức: x y K z K z (1.5) Hệ số K gọi là hệ số áp lực ngang, cũng còn gọi là hệ số áp lực tĩnh, cho biết tỷ số giữa áp lực (ứng suất) theo phương nằm ngang so với phương thẳng đứng Như vậy, việc xác định TTƯSNS được quy về việc xác định hệ số áp lực ngang K, liên quan đến nhiều đặc điểm, tính chất của khối đất đá. Chú ý rằng, trong điều kiện đối xứng, các thành phần ứng suất trong (1.5) cũng là các ứng suất chính và hệ trục tọa độ đã định nghĩa cũng là hệ trục chính. Trong các mục sau sẽ khảo sát một số trường hợp cơ bản.
Khối đất đá đàn hồi Với giả thiết khối đất đá đàn hồi, các trạng thái ứng suất xuất hiện trong khối đất đá chưa gây ra tác động hóa dẻo hay phá hủy. Trong mục này khảo sát các trườnghợp đơn giản sau: Khối đất đá đàn hồi,đẳng hướng và đồng nhất. Khối đất đá đàn hồi không đồng nhất. Khối đất đá đàn hồi, phân lớp.
Khối đất đá đàn hồi, đẳng hướng và đồng nhất Với giả thiết khối đất đá đồng nhất, thành phần ứng suất theo phương thẳng đứng z tại điểm (z) bất kỳ được xác định theo biểu thức (1.z Kết hợp điều kiện (1.2) và định luật Hook có các phương trình: x y z 0 (1.6) 1 x E y y z y 0 1 E Từ đó, nhận được các thành phần ứng suất theo phương nằm ngang: x y z (1.5) hệ số áp lực ngang Kban đầu có dạng(cho môi trường đàn hồi, đồng nhất, đẳng hướng, ký hiệu là K 0 ): 1 (1.8) K K0 1 m 1 Như vậy, các thành phần ứng suất theo phương nằm ngang cũng như hệ số áp lực ngang trong trường này chỉ phụ thuộc vào hệ số biến dạng ngang cũng như hằng số biến dạng ngang m, không phụ thuộc vào module đàn hồi E.9) Nên K 0 xác định trong khoảng: 0 K0 1 (1.10) Kết quả của trường hợp này cho thấy, nếu chỉ chú ý đến trọng lực, các thành phần ứng suất theo phương nằm ngang chỉ có thể nhỏ hơn và nhiều nhất là bằng thành phần ứng suất theo phương thẳng đứng, nghĩa là: 0 x y z (1.11) Trong trường hợp đặc biệt, khi 0 , hằng số m , khối đất đá được coi là vật thể chịu nén hoàn toàn, khi đó x y 0. Trong trường hợp này không xuất hiện các thành phần ứng suất theo phương nằm ngang. Khi 0,5 , nghĩa là khối đất đá có biểu hiện như vật thể không chịu nén thể tích hoàn toàn, các thành phần ứng suất theo phương nằm ngang có giá trị như thành phần ứng suất theo phương thẳng đứng tại điểm được xét, nghĩa là K0 1 và: x y z .12) Trạng thái ứng suất này được gọi là trạng thái ứng suất có các thành phần ứng suất đều theo mọi phương hay trạng thái ứng suất thủy tĩnh. Khối đất đá đàn hồi, dị hướng Sau đây khảo sát hai trường hợp điển hình về khối đất đá có biểu hiện bất đẳng hướng là xuyên đẳng hướng và bất đẳng hướng trực giao.