Chương 1: Tổng quan về phân cụm dữ liệu GIS và phân cụm dữ liệu địa lý: Trình bày các khái niệm cơ bản, các cách tiếp cận, phương pháp, thuật toán; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN3 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Chú trọng các kết quả đã biết về đánh giá điểm mạnh điểm yếu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN4 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Chương 2: Phương pháp lan truyền độ tương tự trong phân cụm dữ liệu Trình bày tổng quan một số phương pháp Chương 3: Xây dựng chương trình thử nghiệm Giới thiệu bài toán thử nghiệm. Dữ liệu thử nghiệm. Thiết kế hệ thống.
Viết chương trình thử nghiệm. Dự định sử dụng ngôn ngữ lập trình C# để xây dựng chương trình demo Kết luận và hướng phát triển của luận văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN5 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ VÀ PHÂN CỤM DỮ LIỆU ĐỊA LÝ 1.1 Tổng quan về hệ thống thông tin địa lý 1.1 Lịch sử ra đời Từ lâu bản đồ luôn là một công cụ thông tin quen thuộc đối với loài người. Trong quá trình phát triển kinh tế kĩ thuật, bản đồ luôn được cải tiến sao cho ngày càng đầy đủ thông tin và chính xác hơn. Với sự đa dạng của các loại bản đồ trong việc thể hiện các đối tượng khác nhau trên bề mặt trái đất, các nhà quy hoạch nhận thức được sự cần thiết trong xử lý đồng thời nhiều hơn một bản đồ.
Các mô hình đồ họa cổ điển xử lý thông tin bản đồ gặp rất nhiều khó khăn trong xử lý đồng thời dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính. Điều này đã dẫn đến sự phát triển các phương pháp và kỹ thuật xử lý tổng hợp thông tin nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác quy hoạch và ra quyết định. Trong những năm đầu thập kỉ 60 (1963-1964) các nhà khoa học ở Canada đã cho ra đời hệ thông tin địa lý. Hệ thống thông tin địa lý kế thừa mọi thành tựu trong ngành bản đồ cả về ý tưởng lẫn thành tựu của kỹ thuật bản đồ.
Hệ thông tin địa lý bắt đầu hoạt động bằng việc thu thập dữ liệu theo định hướng tuỳ thuộc vào mục tiêu đặt ra. Cùng với Canada, các trường đại học tại Mỹ cũng tiến hành nghiên cứu và xây dựng hệ thống thông tin địa lý và càng ngày nhu cầu sử dụng, nghiên cứu hệ thống thông tin địa lý càng được quan tâm nhiều hơn. Một số mốc lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển công nghệ GIS: 1963 – Phòng đồ họa vi tính của trường đại học tổng hợp Harvard (R. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN6 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 1963 – thành lập Hiệp hội các hệ thống thông tin đô thị và khu vực (URISA).
1964 – Symap ra đời (Hệ thống phần mềm vẽ bản đồ cơ sở do Đại học tổng hợp Harvard xây dựng). Giữa những năm 1960 – Tổng cục điều tra dân số của Mỹ xây dựng quy trình vẽ bản đồ địa chính theo địa chỉ (D. White xây dựng lý thuyết về quan hệ không gian cho các dữ liệu địa lý). 1967 – GIS Canađa ra đời (R.
Tomlinson là tác giả của thuật ngữ GIS). 1967 – Thành lập Cơ quan đo vẽ bản đồ thực nghiệm ở Anh (Boyle, Rhind). 1969 – Thành lập Intergraph và ESRI (Dangermond và Morehouse). 1973 – Các hội nghị về Hệ thống thông tin đô thị (URPIS) được tổ chức tại Australia dẫn đến sự thành lập của Tổ chức các hệ thống thông tin đô thị Ôxtrâylia (AURISA) vào năm 1975.
1974 – Các hội nghị về AutoCarto được tổ chức. 1973 – ODYSSEY (tiền thân của phần mềm GIS do trường đại học Harvard xây dựng) ra đời. 1978 – Hệ thống hiển thị thông tin nội địa Nhà Trắng (Mỹ) ra đời. 1980 – Phần mềm ArcINFO ra đời.
1987 - Phần mềm MapINFO ra đời. 1987- Tạp chí GIS quốc tế ra đời.2 Định nghĩa Hệ thông tin địa lý GIS (Geographical Information System) là tập hợp các công cụ để thu thập, lưu trữ, chỉnh sửa, truy cập, phân tích và cập nhật các thông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN7 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com tin địa lý cho một mục đích chuyên biệt. Ngoài ra cũng có nhiều định nghĩa khác về GIS: GIS là công cụ trên cơ sở nền máy tính để lập bản đồ và phân tích những hiện tượng đang tồn tại và các sự kiện xảy ra trên trái đất (Environmental System Research Institute ESRI – Mỹ). GIS là hệ thống phần cứng, phần mềm và các thủ tục được thiết kế nhằm thu thập, quản lý, xử lý, phân tích, mô hình hóa và hiển thị các dữ liệu quy chiếu không gian để giải quyết các vấn đề quản lý và lập kế hoạch (National Center for Geography Information and Analysis NCGIA – Mỹ).
GIS là một tập hợp các nguyên lý, phương pháp, dụng cụ và dữ liệu quy chiếu không gian được sử dụng để nhập, lưu trữ, chuyển đổi, phân tích, lập mô hình, mô phỏng và lập bản đồ các hiện tượng, sự kiện trên trái đất, nhằm sản sinh các thông tin thiết thực hổ trợ cho việc ra quyết định (Thesriault – Canada).3 Các thành phần của hệ thống thông tin địa lý GIS bao gồm 5 thành phần chính là: phần cứng, phần mềm, dữ liệu, con người và các chính sách.1: Các thành phần của hệ thống thông tin địa lý Gis Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN8 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Phần cứng Phần cứng là hệ thống các thiết bị có nhiệm vụ chạy các chương trình GIS nhằm thực hiện các yêu cầu về thu thập, phân tích, tính toán, xử lý, truy vấn dữ liệu. Hệ thống phần cứng gồm: Thiết bị nhập: Chuột, bàn phím, máy quét ảnh, bàn số hoá, máy quét bản đồ. Thiết bị xử lý: Máy tính - cụ thể là bộ xử lý trung tâm. Thiết bị xuất: Máy in, máy chiếu, máy vẽ.
Thiết bị lưu trữ: Đĩa từ, đĩa quang, đĩa cứng. Phần mềm Tuỳ vào nhu cầu sử dụng và tuỳ vào từng sản phẩm mà các phần mềm có thể khác nhau. Tuy nhiên, các thành phần chính của các phần mềm GIS gồm có : Nhập và tìm kiếm dữ liệu Lưu trữ và quản lý cơ sở dữ liệu Xuất dữ liệu Chỉnh sửa dữ liệu Tương tác với người sử dụng Dữ liệu Có thể coi dữ liệu là thành phần quan trọng nhất của mọi hệ thống cơ sở dữ liệu cũng như hệ thống GIS. Dữ liệu này có thể thu thập từ trắc địa, viễn thám hoặc mua lại từ các nhà cung cấp để xử lý, phân tích, và là cơ sở để phát triển và nghiên cứu GIS.
Hệ GIS sẽ kết hợp dữ liệu không gian với các nguồn dữ liệu khác, thậm chí có thể sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu để tổ chức lưu giữ và quản lý dữ liệu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN9 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Con người Là đối tượng chính sử dụng GIS vào việc học tập, nghiên cứu, ra quyết định. Người sử dụng GIS có thể là những chuyên gia kỹ thuật, người thiết kế và duy trì hệ thống, hoặc những người dùng GIS để giải quyết các vấn đề trong công việc. Chính sách Là yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công của việc phát triển công nghệ GIS.4 Dữ liệu trong hệ thống thông tin địa lý Cơ sở dữ liệu nền GIS là cơ sở dữ liệu mà những lĩnh vực trong công tác quản lý tài nguyên môi trường cần đến nó và sử dụng chúng.
Cơ sở dữ liệu nền GIS là phần giao của từng cơ sở dữ liệu trong công tác quản lý tài nguyên môi trường. Cơ sở dữ liệu nền GIS bao gồm hai phần: Cơ sở dữ liệu không gian (bản đồ nền). Cơ sở dữ liệu thuộc tính chung. Bản đồ nền Bản đồ nền là bản đồ chỉ bao gồm yếu tố nền cơ sở địa lý.
Nó là cơ sở để xác định vị trí địa lý của các đối tượng trong dữ liệu chuyên ngành. Nền cơ sở địa lý của bản đồ là tập hợp những yếu tố thuỷ văn, giao thông, dân cư, biên giới quốc gia, địa giới hành chính, địa danh và địa hình để làm cơ sở thể hiện cách nội dung khác trên bản đồ. Bản đồ nền được phân thành hai nhóm: bản đồ địa lý chung và địa lý chuyên đề. Bản đồ địa lý chung là bản đồ thể hiện mọi đối tượng, hiện tượng địa lý của bề mặt trái đất, bao gồm đầy đủ các đối tượng và hiện tượng kinh tế, văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN10 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com hóa, xã hội như thủy văn, địa hình, thực vật, đất đai, dân cư, giao thông, công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp văn hóa, hành chính – chính trị.
Bản đồ địa lý chuyên đề là loại bản đồ trên đó thể hiện rõ ràng, nổi bật và hoàn thiện một hoặc một số các yếu tố đã được thể hiện trên bản đồ địa lý chung. Cơ sở dữ liệu thuộc tính chung Là những số liệu phi không gian mô tả về các đặc tính, đặc điểm và các hiện tượng xảy ra tại các vị trí địa lý xác định, ví dụ: tên đường phố, số lượng dân số tại một khu vực, lượng mưa hàng năm tại một khu vực. Trên bản đồ, các sự vật trên thế giới thực được thể hiện qua tập các điểm, đường và miền, còn các ký hiệu, nhãn thể hiện các thông tin về thuộc tính của sự vật đó.2 Phân cụm dữ liệu địa lý 1.1 Phân cụm dữ liệu Phân cụm dữ liệu là một kỹ thuật trong khai phá dữ liệu nhằm tìm kiếm, phát hiện các cụm, các mẫu dữ liệu tự nhiên tiềm ẩn và quan trọng trong tập dữ liệu lớn để từ đó cung cấp thông tin, tri thức cho việc ra quyết định. Phân cụm dữ liệu là sự phân chia một cơ sở dữ liệu lớn thành các nhóm dữ liệu mà trong đó các đối tượng là tương tự nhau.
“Phân cụm dữ liệu là quá trình tổ chức các đối tượng thành từng nhóm mà các đối tượng ở mỗi nhóm đều tương tự nhau theo một tính chất nào đó, những đối tượng không tương tự tính chất sẽ ở nhóm khác.” Dữ liệu địa lý là dữ liệu bao gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính được kết hợp với nhau một cách tương ứng. Dữ liệu địa lý có thể là các bản đồ số trên máy vi tính, các mô hình mô phỏng hình dáng bề mặt trái đất, các cơ sở dữ liệu ảnh bề mặt trái đất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN11 http://www.vn download by : skknchat@gmail.