Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu nhân cách. Về vấn đề “phẩm chất nhân cách” trong các hoạt động nghề nghiệp khác nhau đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên cần được kể đến là tổng kết của R.Stogdill, đánh giá 124 nước về lãnh đạo theo phẩm chất trong thời kỳ 1904-1948. Kết quả là đưa ra những phẩm chất có liên quan đến việc thực hiện vai trò của người lãnh đạo như thông minh, hiểu biết nhu cầu của người khác, hiểu biết nhiệm vụ, chủ động và kiên trì trong việc giải quyết, tự tin, có trách nhiệm, mong muốn nắm giữ vị trí thống trị và kiểm soát.
Tổng kết lần thứ hai của R.Stogdill năm 1974, nghiên cứu 163 đề tài về phẩm chất và kỹ năng người lãnh đạo trong thời kỳ 1949-1970. Với các nghiên cứu của mình, ông đã xác định về phẩm chất của người lãnh đạo như thích ứng, am hiểu môi trường xã hội, tham vọng và định hướng thành tựu, quyết đoán, có tinh thần hợp tác, kiên quyết, đáng tin cậy, thống trị, xông xáo, kiên trì, tự tin, chịu đựng sự căng thẳng, sẵn lòng nhận trách nhiệm., về kỹ năng như tài giỏi, thông minh, nhận thức, sáng tạo, ngoại giao và lịch thiệp, diễn đạt thông tin, kỹ năng tổ chức, kỹ năng thuyết phục. 10 z Ở Liên Xô vào những năm 20, đầu những năm 30 của Thế kỷ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm xác định những phẩm chất, đặc điểm cơ bản của người lao động trong một nghề (như các công trình nghiên cứu của T. Đến năm 60-70 nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu sự thành nghề và sự phát triển nhân cách nghề trên cơ sở sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu về họa đồ nghề nghiệp, đặc biệt là đi sâu nghiên cứu về mặt động cơ và thao tác của hoạt động nghề.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả như N.Xlatvenin (1978) về quá trình hình thành nhân cách người giáo viên, sự phát triển năng lực sư phạm và trình độ tay nghề.Gônôbin (1977) với “những phẩm chất tâm lý của giáo viên” có đề cập tới các đặc điểm tâm lý phù hợp với hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh. Đó là các phẩm chất như đạo đức, chí hướng, hứng thú, năng lực, quá trình nhận thức, những đặc điểm trí tuệ, tình cảm lao động, phẩm chất ý chí của người thầy giáo trong quá trình dạy học và giáo dục.[17] Vấn đề phẩm chất nhân cách người cán bộ lãnh đạo quản lý đã được các nhà tâm lý học và xã hội học nghiên cứu như E. Các tác giả đã đưa ra 150 phẩm chất mà người cán bộ lãnh đạo cần phải có.[49] Một số tác giả của trường Đại học tổng hợp Lêningrát (Liên Xô), trong phương án thử nghiệm đã đưa ra 109 yêu cầu về phẩm chất nhân cách người kỹ sư thiết kế theo 8 nhóm: Các nhóm phẩm chất biểu hiện thái độ đối với công việc (yêu lao động, thái độ quan tâm đến công việc, sáng tạo.); các phẩm chất đặc trưng cho phong cách chung của hành vi và hoạt động (tính chấp hành, tính độc lập, tính năng động.); kiến thức (kiến thức kỹ thuật theo chuyên ngành của mình, kiến thức toán học, văn hoá nói chung.); các phẩm chất trí tuệ (tính mềm 11 z dẻo, tính phê phán, độ sâu, tầm rộng.); các kỹ năng tổ chức-kỹ thuật (kỹ năng giải quyết nhiệm vụ kỹ thuật, kỹ năng làm việc với tài liệu và sổ tay kỹ thuật, kỹ năng thực hiện tác động qua lại đối với các bộ phận khác.); các kỹ năng tổ chức-hành chính (kỹ năng thiết lập bầu không khí lao động, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng thuyết phục người khác.); các phẩm chất đặc trưng thái độ đối với bản thân (khiêm tốn, tự tin, tự hoàn thiện.Đulov trong cuốn “Tâm lý học tư pháp” đã khẳng định tầm quan trọng vị trí của Thẩm phán trong hoạt động xét xử. Ông nêu lên một số phẩm chất cơ bản đối với Thẩm phán là: Đạo đức, khả năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, những đặc điểm hoạt động trí tuệ, các kỹ năng tổ chức hoạt động xét xử, phẩm chất ý chí.[63] Ở Lào, tác giả Khăm Kẹo Vông Phi La (1996) trong “Nghiên cứu phẩm chất nhân cách người hiệu trưởng tiểu học” đã xác định hệ thống những phẩm chất nhân cách của người hiệu trưởng theo 3 nhóm phẩm chất: Phẩm chất đạo đức, phẩm chất tư tưởng-chính trị và phẩm chất công việc.[30] Ở Việt Nam một số tác giả đã đề cập tới vấn đề này như: Tác giả Đỗ Thị Hoà (1993) trong đề tài “Tuyển chọn những phẩm chất tâm-sinh lý học sinh học nghề lái xe” đã đưa ra 5 đặc điểm tâm lý cơ bản, cần thiết cho nghề lái xe là: Có khả năng phản ứng nhanh, nhạy bén trước tình huống bất ngờ, có khả năng phối hợp thao tác, động tác tốt; có độ bền vững và phân phối chú ý tốt; có khả năng tập trung và di chuyển chú ý tốt; có khả năng phân tích tổng hợp sự kiện tốt; có khả năng phán đoán tình huống chính xác.[29] Tác giả Nguyễn Thị Kim Luân (1993) trong “Nghiên cứu một số phẩm chất tâm lý đặc trưng ở vận động viên bóng bàn trẻ Việt Nam” đã đưa ra 6 nhóm phẩm chất tâm lý đặc trưng của vận động viên bóng bàn là: năng lực chú ý; tri 12 z giác không gian; cảm giác vận động cơ; đặc điểm hoạt động thần kinh; tư duy trực quan hình ảnh- hành động; trạng thái tâm lý thi đấu.[33] Tác giả Nguyễn Thị Phương Anh (1996) trong đề tài “Một số đặc điểm tâm lý-xã hội của nhà doanh nghiệp” đã đưa ra 14 đặc điểm tâm lý của các nhà doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động kinh doanh là: Bền bỉ, cần cù, có chí, dám mạo hiểm, có đầu óc tính toán kinh doanh, ham học hỏi, hiểu biết, linh hoạt, năng động, nhạy bén, óc sáng tạo, quảng giao, quyết đoán, thạo việc, có kinh nghiệm về lĩnh vực mình kinh doanh, thận trọng, thông minh, tự tin,.[2] Tác giả Nguyễn Thị Kim Phương (1996) trong “Nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý-xã hội của giới doanh nghiệp trẻ Việt Nam” đã khảo sát 60 phẩm chất theo 3 nhóm: Những khả năng, những kỹ năng và những phẩm chất đặc trưng hiện có ở giới doanh nghiệp trẻ Việt Nam.[48] Tác giả Nguyễn Sinh Phúc đi sâu nghiên cứu vị trí của “đức” và “tài” trong cấu trúc nhân cách của bác sĩ quân y.[47] Tác giả Hoàng Cao (1998) trong “Những phẩm chất nhân cách người hiệu trưởng trường tiểu học ở Thanh Hoá hiện nay” đã khảo sát 21 phẩm chất theo 6 nhóm: Phẩm chất tư tưởng-chính trị, phẩm chất đạo đức, phẩm chất chuyên môn, phẩm chất ý chí, các phẩm chất liên quan đến việc thiết lập và duy trì quan hệ với người khác, năng lực tổ chức hành chính.[13] Tác giả Hồ Thị Song Quỳnh (2000) trong đề tài “Thực trạng về nhân cách của cán bộ chủ chốt cấp phường, xã tỉnh Bến Tre” đã xác định hệ thống các phẩm chất nhân cách của người cán bộ chủ chốt cấp phường, xã theo 3 nhóm phẩm chất: Phẩm chất chính trị- tư tưởng, phẩm chất tâm lý-đạo đức, phẩm chất công tác.
Trong đó tác giả xếp nhóm phẩm chất chính trị-tư tưởng cùng với 13 z nhóm phẩm chất tâm lý-đạo đức chiếm vị trí hàng đầu, sau đó là nhóm phẩm chất công tác.[49] Ở mức độ nghiên cứu sâu hơn, GS. Nguyễn Ngọc Phú còn đi sâu phân tích cấu trúc của ý thức bảo vệ Tổ quốc- Một phẩm chất chính trị- tinh thần- đạo đức. Theo tác giả, phẩm chất này bao hàm ý thức giác ngộ giai cấp, dân tộc sâu sắc, có nhu cầu sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc và được thể hiện bằng những hành động tích cực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.132] Tác giả Nguyễn Mai Lan (2000) đi sâu nghiên cứu: “Những phẩm chất tâm lý đặc trưng của mã dịch viên”. Trên cơ sở phân tích vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mã dịch viên, tác giả đã đưa ra 22 phẩm chất tâm lý thuộc 4 nhóm xu hướng, năng lực, tính cách, khí chất.[31] Tóm lại, vấn đề phẩm chất nhân cách đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước.
Những nghiên cứu này đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự hình thành và phát triển tâm lý học nói chung và tâm lý học nhân cách nói riêng. Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh cụ thể của phẩm chất nhân cách, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu một cách toàn diện, có hệ thống về phẩm chất nhân cách, đặc biệt là làm rõ những phẩm chất nhân cách của Thẩm phán. Chính vì vậy chúng tôi chọn nghiên cứu phẩm chất nhân cách với khách thể hoàn toàn mới là những Thẩm phán công tác tại các TAND địa phương. Lý luận về nhân cách và phẩm chất nhân cách.
Lý luận về nhân cách. Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như xã hội học, triết học, đạo đức học, giáo dục học, tâm lý học. Bất cứ khoa học nào có liên quan tới con người đều quan tâm đến vấn đề nhân cách. 14 z Trong tâm lý học, khái niệm nhân cách là một vấn đề khá phức tạp.
Có thể nói nhân cách là một vấn đề đã được tranh luận từ lâu, cho tới nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về nó. Đã có rất nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về nhân cách.Allport đã dẫn ra trên 50 định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về nhân cách, đến nay con số này đã lên tới hàng trăm theo một số tác giả nhận định. Quan niệm của các nhà tâm lý học phƣơng Tây. Trong tâm lý học phương Tây hiện đại đang tồn tại nhiều quan niệm rất đa dạng, mâu thuẫn và đối lập nhau về nhân cách.Freud là một thầy thuốc tâm thần người Áo cho rằng: Bản chất của nhân cách phát sinh từ các quá trình nội tại.
Sự xung đột này xảy ra giữa sự thúc đẩy của “cái nó” (“id”), “cái tôi” (“ego”) và “cái siêu tôi” (“super”). Trong ba khối thì “cái nó” là cốt lõi của nhân cách, là động lực chi phối mọi hành vi của con người. Đây chính là những sai lầm của thuyết phân tâm học.Freud đã tách rời điều kiện xã hội với việc hình thành nhân cách và cho rằng cái sinh vật và cái vô thức là yếu tố quyết định hình thành nhân cách, đồng thời đã tuyệt đối hoá bản năng tình dục của con người.