Chương 1: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm 1. Nợ xấu Nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản và tập trung nhất, phản ánh chất lượng, hiệu quả hoạt động của một ngân hàng cũng như sự phát triển ổn định của cả hệ thống bởi vì hoạt động tín dụng là hoạt động chính và đem lại nguồn thu lớn nhất cho các ngân hàng, mà trong đó tỷ lệ nợ xấu là một chỉ số chung nhất đại diện cho rủi ro tín dụng (Makri, Tsagkanos, & Bellas, 2014). Về cơ bản, một khoản nợ của ngân hàng được xem là nợ xấu khi hơn 90 ngày trôi qua mà người đi vay không thanh toán các khoản nợ hoặc lãi đã được thỏa thuận (Ngân hàng Trung Ương Châu Âu). Định nghĩa đầy đủ hơn được Phòng Thống kê – Liên hợp quốc xác định “một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận”.
Như vậy, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây cũng được coi là định nghĩa của IAS đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới7. Ở Việt Nam, nợ xấu được định nghĩa trong Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước : “Nợ xấu là những khoản nợ thuộc các nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng”.
Trong đó, nợ nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào nhóm thích hợp. Những khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi, chẳng hạn, nợ nhóm 3 là các khoản nợ được tổ chức tín 7 Trích dẫn từ: “Nợ xấu Ngân hàng phát triển chi nhánh Khánh Hòa và biện pháp giải quyết nợ xấu”, Thái Ninh.vn/2016/03/23/no-xau-ngn-hng-pht-trien-chi-nhnh-khnh-ha-v-bien-php-giai- quyet-no-xau/ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn, trong khi nhóm 4 và 5 lần lượt là các khoản nợ có khả năng mất vốn cao hoặc không có khả năng thu hồi. Do đó, để phù hợp với bối cảnh Việt Nam, bài nghiên cứu này xem xét nợ xấu là các khoản nợ quá hạn trên 90 ngày, tương tự các nghiên cứu trước đây như Bùi Duy Tùng và cộng sự (2015) hay Đoàn Thanh Hà và cộng sự (2016). Cụ thể là giá trị nợ xấu bằng tổng các khoản nợ dưới chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4), và nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5).
Vấn đề rủi ro đạo đức và các khoản nợ xấu Trên thực tế, các ngân hàng thường khó có thể tránh khỏi các khoản nợ xấu do hoạt động cho vay luôn chứa đựng rủi ro. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp mà ở đó các giám đốc ngân hàng có động cơ để thực hiện cho vay với rủi ro cao hơn so với mức tối ưu. Jensen và Meckling (1976) cho rằng có hai loại vấn đề rủi ro đạo đức nảy sinh từ hành vi này. Đầu tiên là việc tìm kiếm đặc lợi của nhà quản lý, được thực hiện khi các giám đốc theo đuổi các lợi ích cá nhân từ việc đầu tư vào các dự án ưa thích hoặc thông qua việc kiểm soát không đầy đủ những khoản vay.
Vấn đề rủi ro đạo đức còn lại nảy sinh từ sự mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và các chủ nợ. Các cổ đông có thể muốn thực hiện những khoản vay rủi ro nhưng cuối cùng lại chuyển những rủi ro này đến những người gửi tiền. Lý thuyết của Jensen và Meckling (1976) hàm ý rằng cả hai vấn đề rủi ro đạo đức trên đều dẫn đến tốc độ tăng trưởng tín dụng (cho vay) cao hơn và hình thành một lượng lớn hơn các khoản nợ xấu. Dĩ nhiên, rủi ro đạo đức thì không quan sát trực tiếp được, nhưng có thể được suy ra từ việc quan sát hành vi ngân hàng.
Như đã được nhấn mạnh ở trên, một trong những lý do chính của vấn đề rủi ro đạo đức đó là việc chấp nhận rủi ro quá mức trong cho vay. Foos và cộng sự (2010) gợi ý rằng sự tăng trưởng tín dụng đại diện cho một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro của các ngân hàng. Qua việc nghiên cứu ở các ngân hàng Mỹ, Canada, Nhật và Châu Âu trong suốt giai đoạn 1997-2007, Foos và cộng sự (2010) thấy rằng tăng trưởng tín dụng dẫn đến một sự gia tăng các khoản lỗ từ cho vay trong suốt ba năm liên tiếp sau đó, gây nên một sự sụt giảm trong cả thu nhập từ lãi và tỷ lệ vốn chủ sở hữu. Demirguc-Kunt (1989), Barr và cộng sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 (1994), Gorton và Rosen (1995), Berge và Udell (1994) và Shrieves và Dahl (2003) đã nghiên cứu sâu hơn và nhận thấy tồn tại mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng, nợ xấu và sự chấp nhận rủi ro của các ngân hàng.
Phần lớn các nghiên cứu cũng tập trung xem xét về vấn đề rủi ro đạo đức, hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng trong khuôn khổ cấu trúc sở hữu cổ phần. Ví dụ, Saunder và cộng sự (1990) nhận thấy cổ đông kiểm soát các ngân hàng thì có khuynh hướng thực hiện nhiều rủi ro hơn so với những nhà quản lý kiểm soát các ngân hàng. Demsert và Strahan (1997) tìm thấy mối quan hệ dương và không tuyến tính giữa các thước đo rủi ro thị trường và mức sở hữu của nhà quản lý (cổ phần thuộc nhà quản lý). Jia (2009) gợi ý hoạt động cho vay bởi các ngân hàng cổ phần thì thận trọng hơn so với hoạt động cho vay bởi các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước.
Ngoài ra, Zhou (2014) đã chứng minh được sự đa dạng hóa trong cấu trúc thu nhập của các ngân hàng giúp giảm thiểu không đáng kể tổng rủi ro của ngân hàng. Như vậy, bài nghiên cứu này sẽ mở rộng hơn những nghiên cứu trên bằng việc tìm hiểu sâu hơn về vai trò của cấu trúc sở hữu cổ phần đối với hành vi các ngân hàng và rủi ro đạo đức trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Ngoài ra, thái độ của ban quản lý của các ngân hàng cũng đóng vai trò quan trọng. Boyd và Graham (1998), Nier và Baumann (2006) gợi ý khi các ngân hàng cảm thấy “quá lớn để sụp đổ” nhờ vào sức mạnh thị trường lớn của họ hoặc là kỳ vọng được cứu trợ trong trường hợp vỡ nợ, thì vấn đề rủi ro đạo đức càng trở nên rõ rệt hơn.
Soedarmono và Tarazi (2015) thấy rằng sức mạnh thị trường càng lớn trong ngành ngân hàng có thể ngay lập tức dẫn đến sự không ổn định hơn trong hệ thống ngân hàng ở các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương. Kim và cộng sự (2015) cũng phát hiện ra sự gia tăng trong sức mạnh thị trường của các ngân hàng lớn gây nên sự bất ổn tài chính của các ngân hàng nhỏ ở các nền kinh tế châu Á. Cuối cùng, Bernanke và Gertler (1986) chỉ ra rằng những khoản nợ xấu có thể đưa đến các hành vi khác nhau của các ngân hàng dựa theo sự ưa thích hay khẩu vị rủi ro của họ. Các ngân hàng khôn ngoan và hiệu quả thường có xu hướng thận trọng hơn khi họ đối mặt với mức độ gia tăng của các khoản nợ xấu.
Tuy nhiên khi tỷ lệ nợ xấu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 quá cao, cả cổ đông và các nhà quản lý ngân hàng đều có sự khuyến khích (hay động cơ) rõ ràng để chuyển dịch rủi ro. Eisdofer (2008) phát hiện các doanh nghiệp trong tình trạng kiệt quệ tài chính sẽ có hành vi chuyển dịch rủi ro nhiều hơn. Xem xét các ngân hàng ở Mỹ, Koudstaal và Wijnbergen (2012) nhận thấy với danh mục cho vay có càng nhiều vấn đề thì càng thúc đẩy các ngân hàng chấp nhận rủi ro cao. Bruche và Llobet (2011) tranh luận khi các ngân hàng đối mặt với mối đe dọa phá sản, họ có xu hướng đảo nợ xấu để gia tăng khả năng thu hồi.
Bằng chứng từ các nghiên cứu trên chỉ ra mức độ nợ xấu có thể là một yếu tố quan trọng quyết định hành vi của các ngân hàng đưa đến việc họ có những hành vi khác nhau khi đối mặt với nợ xấu cao hơn mức chuẩn. Chính vì vậy có lý do để tin rằng mức độ của nợ xấu có thể hữu ích trong việc xác định sự hiện diện của rủi ro đạo đức trong ngành ngân hàng. Do đó, bài nghiên cứu này sẽ xác định hành vi cho vay và rủi ro đạo đức ở các ngân hàng khi họ đối mặt với một mức nợ xấu trên mức ngưỡng. Nợ xấu và rủi ro đạo đức ở các ngân hàng Việt Nam Về sự quản lý rủi ro trong hệ thống, vào năm 2005, NHNN đã đưa ra các quy định về phân loại nợ xấu8, cho phép các ngân hàng đẩy nhanh thời hạn cho vay và quyền quyết định nhiều hơn đối với các khoản nợ quá hạn.
Tính đến tháng 12 năm 2008, hầu như tất cả các tổ chức tài chính đã thiết lập được cơ chế đánh giá tín nhiệm nội bộ và định giá rủi ro. Ngày 1/1/2013, NHNN ban hành Thông tư 2, trong đó thắt chặt các quy định về phân loại tài sản của ngân hàng cùng với việc thành lập và sử dụng các khoản dự phòng rủi ro tín dụng. Thông tư 2 của NHNN đã có hiệu lực vào ngày 1 tháng 6 năm 2014, dự kiến sẽ đưa phân loại tài sản của các ngân hàng Việt Nam gần hơn với các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế hơn9. Trong năm 2010, NHNN cũng nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu yêu cầu lên 9%, cao hơn một chút so với mức chuẩn của Basel I10.
8 Xem thêm: http://www.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail. 9 Xem thêm Hệ thống ngân hàng thương mại và các quy định ở Việt Nam tại phụ lục B. 10 Basel I là một bộ quy tắc ngân hàng quốc tế do Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) ban hành, quy định các yêu cầu về vốn tối thiểu của các tổ chức tài chính với mục tiêu giảm thiểu rủi ro tín dụng. Các ngân hàng hoạt động trên phạm vi quốc tế phải duy trì một khoản vốn tối thiểu (8%) trên các tài sản rủi ro.