CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. Tính cấp thiết của luận án Nợ xấu đang là một trong những vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu hiện nay, đặc biệt các nhà nghiên cứu chú trọng tìm hiểu nguyên nhân và ảnh hưởng của nợ xấu đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Theo Reinhart và Rogoff (2010); Nkusu (2011) và Louzis và ctg (2012), nợ xấu được xem là dấu hiệu cảnh báo cho cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai nếu không theo dõi và xử lý kịp thời. Việc tìm hiểu nguyên nhân cũng như phân tích tác động của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam là vô cùng quan trọng và cấp thiết nhằm có kế hoạch ngăn ngừa khủng hoảng tài chính ngân hàng trong tương lai.
Trong giai đoạn 2005- 2015, nợ xấu gia tăng không chỉ làm tăng tính dễ tổn thương của các ngân hàng khi gặp những cú sốc mà có thể là nguyên nhân làm hạn chế hoạt động cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế. Số liệu về nợ xấu của các NHTM Việt Nam có sự chênh lệch giữa các nguồn thông tin khác nhau. Nguồn thứ nhất là tỷ lệ nợ xấu được các NHTM công bố trên BCTC đã kiểm toán dựa trên Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) và các quy định về phân loại nợ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là hơn 117.000 tỷ đồng vào 31/5/2012, tiếp tục tăng lên 4,8% vào 30/09/2012. Nguồn thông tin thứ hai về nợ xấu là từ số liệu thanh tra, giám sát của NHNN.
Theo đó, tỷ lệ nợ xấu theo Cơ quan Thanh tra Giám sát (CQTTGS) cuối tháng 3 năm 2012 lên tới 8,6%. Mức gia tăng tỷ lệ nợ xấu sau thanh tra, giám sát là do việc xác định lại các khoản nợ tái cơ cấu mà trước đây không được coi là nợ xấu. Nguồn thông tin thứ ba là từ các tổ chức quốc tế. Trong Báo cáo đánh giá tình hình khu vực tài chính của Việt Nam, World Bank (2014) đã ước tính tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam vào cuối năm 2012 là 12%.
Trong khi đó, tổ chức đánh giá tín LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nhiệm vay nợ quốc tế Moody’s, trong báo cáo Triển vọng hệ thống Ngân hàng Việt Nam vào tháng 02/2014, Fang và Long (2014) đã ước tính tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam là 15% trên tổng tài sản. Số liệu tính toán căn cứ vào tỷ lệ nợ xấu chính thức 4,7%, tỷ lệ nợ tái cơ cấu 9,5% và ước tính 10-15% các hạng mục chứng khoán, cho vay liên ngân hàng và khoản phải thu có vấn đề. Với giá trị tổng tài sản của hệ thống ngân hàng vào cuối tháng 11/2014 là 5,51 triệu tỷ đồng, thì giá trị nợ xấu bằng 827 nghìn tỷ đồng, hay 39 tỷ USD. Như vậy, nếu nợ xấu thực sự ở mức độ như các ước tính ở trên thì có nghĩa là một số các ngân hàng đã mất khả năng chi trả về mặt kỹ thuật.
Sau đó, trong giai đoạn 2013-2015, nợ xấu của các NHTM Việt Nam có xu hướng giảm, nhưng tác động của nợ xấu đến hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam vẫn còn kéo dài và chưa được giải quyết triệt để. Hiện nay, các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng những công cụ chuẩn đoán để đánh giá về nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu trong ngắn hạn. Nhưng việc tìm hiểu sâu hơn về các nguyên nhân gây ra nợ xấu còn hạn chế và việc xác định yếu tố quan trọng dẫn đến nợ xấu thì vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Vấn đề trọng tâm được xác định là cần xử lý nợ xấu nhanh để gỡ bỏ rào cản này nhằm giúp ngành Ngân hàng phát triển bền vững và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Để xử lý nợ xấu hiệu quả, cần phải xác định nguyên nhân và hậu quả của nợ xấu, từ đó mới đưa ra các biện pháp phù hợp. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh nợ xấu bị gây ra bởi nhiều yếu tố, nhưng đa phần các học giả đều cho rằng hiệu quả, tăng trưởng tín dụng, quy mô, an toàn vốn, các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi suất, tỷ giá, giá nhà là các yếu tố chủ yếu tác động đến nợ xấu. Một trong những khoảng trống của các nghiên cứu hiện hành là chưa kiểm định nguyên nhân nợ xấu một cách đầy đủ với mẫu nghiên cứu là các NHTM Việt Nam, cũng như chưa đánh giá tác động của nợ xấu đến hoạt động của NHTM tại Việt Nam. Do đó, luận án ra đời nhằm tìm kiếm bằng chứng để thêm vào khoảng trống của các nghiên cứu trước đây.
Dựa vào các kết quả nghiên cứu, luận án gợi ý các nhóm giải pháp liên quan đến nhóm các yếu tố tác động cùng các khuyến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 với NHNN nhằm giúp các NHTM Việt Nam hạn chế nợ xấu, từ đó giúp ngành Ngân hàng phát triển bền vững hơn trong tương lai. Tình hình nghiên cứu có liên quan và vấn đề nghiên cứu Gần đây, các nghiên cứu về những yếu tố tác động đến nợ xấu rất đa dạng và phong phú. Các nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu các nguyên nhân gây ra nợ xấu và từ đó tìm ra các giải pháp hạn chế nợ xấu. Các nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của các yếu tố đặc thù như hiệu quả ngân hàng, an toàn hoạt động, năng lực tài chính và tăng trưởng tín dụng trong việc hạn chế nợ xấu (Louzis và ctg 2012; Klein 2013).
Các nghiên cứu về các yếu tố vĩ mô như các điều kiện kinh tế vĩ mô nói chung thường giải thích mối quan hệ giữa yếu tố vĩ mô với nợ xấu dựa trên các lý thuyết về khả năng của khách hàng khi trả các khoản vay của họ. Trong khi đó, các nghiên cứu về các yếu tố đặc thù của ngân hàng với nợ xấu chú trọng sự thay đổi trong nợ xấu do sự thay đổi của các yếu tố đặc thù của ngân hàng (Salas và Saurina 2002; Le 2016). Berger và DeYoung (1997) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ xấu, hiệu quả chi phí và mức vốn hóa của các NHTM Mỹ trong giai đoạn 1985-1994 và kết luận rằng có sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hiệu quả chi phí và nợ xấu. Trong khi, tác động của nợ xấu đến hiệu quả chi phí được giải thích theo giả thuyết “kém may mắn” (bad luck hypothesis), chủ yếu do sự suy giảm trong điều kiện kinh tế vĩ mô, thì tác động của hiệu quả chi phí đến nợ xấu được giải thích thông qua giả thuyết “quản lý kém” (bad management hypothesis).
Cụ thể, giả thuyết này cho rằng, hiệu quả chi phí thấp là tín hiệu của quản lý yếu kém. Điều này hàm ý rằng, kết quả của việc giám sát và kiểm soát, bảo lãnh vay vốn nghèo nàn sẽ khiến nợ xấu sẽ tăng lên. Các nghiên cứu về hiệu quả ngân hàng gần đây thường đo lường nợ xấu trong mối quan hệ với chi phí với mục đích kiểm soát chi phí liên quan đến nợ xấu (Hughes và Mester, 1993). Theo Berger và De Young (1997), một số vấn đề về chính sách quan trọng và các nghiên cứu nhằm tìm hiểu nguyên nhân của nợ xấu, xác định trọng tâm thúc đẩy ngân hàng phát triển an toàn, hợp lý và ước tính hiệu quả chi phí của các định chế tài chính đều dựa trên mối quan hệ giữa nợ xấu và hiệu quả chi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Một giả thuyết khác, giả thuyết “tiết kiệm" (skimping hypothesis), cũng được Berger và DeYoung (1997) đề xuất cho thấy một quan hệ nhân quả cùng chiều giữa hiệu quả chi phí và nợ xấu. Đặc biệt, các tác giả này cho thấy hiệu quả chi phí cao có thể phản ánh nguồn lực ít phân bổ để giám sát rủi ro cho vay và do đó có thể dẫn đến nợ xấu cao hơn trong tương lai. Giả thuyết này nhất quán với kết quả nghiên cứu của Rossi và ctg (2009), với mẫu của 278 ngân hàng từ 9 quốc gia chuyển tiếp giai đoạn 1995-2002. Podpiera và Weill (2008) tiếp tục kiểm định mối quan hệ giữa hiệu quả và các khoản nợ xấu trong ngành ngân hàng tại Séc giai đoạn 1994-2005.
Nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ ngược chiều giữa hiệu quả giảm và nợ xấu trong tương lai. Louzis và ctg (2012) dùng suất sinh lời ROE để kiểm tra ảnh hưởng của hiệu quả của các NHTM Hy Lạp và kết quả cho thấy mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ cũng được Salas và Saurina (2002) hay Klein (2013) sử dụng để kiểm tra mối quan hệ với nợ xấu hiện tại. Các nghiên cứu này cho rằng, nợ xấu trong quá khứ cao thể hiện khả năng quản trị rủi ro trong cho vay của ngân hàng kém và nó sẽ tác động cùng chiều với nợ xấu hiện tại.
Karim và ctg (2010) đã sử dụng cả phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên để đo lường hiệu quả chi phí và mô hình hồi quy Tobit để xác định mối quan hệ giữa nợ xấu và hiệu quả chi phí của các NHTM của Singapore và Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mối quan hệ giữa nợ xấu và hiệu quả chi phí là ngược chiều. Giả thuyết “rủi ro đạo đức" (moral hazard hypothesis) do Keeton và Morris (1987) đề xuất cho rằng, các ngân hàng có mức vốn tương đối thấp khuyến khích rủi ro đạo đức bằng cách tăng mức độ rủi ro của danh mục cho vay của họ, dẫn đến nợ xấu trung bình cao hơn trong tương lai. Mối tương quan ngược chiều giữa tỷ lệ vốn và nợ xấu cũng được tìm thấy trong nghiên cứu Altunbas và ctg (2007), Salas và Saurina (2002), Berger và DeYoung (1997) và Lee và Hsieh (2013).
Tổng quát hơn, Keeton và Morris (1987) lập luận rằng các ngân hàng có xu hướng chấp nhận rủi ro lớn hơn, kể cả trong hình thức cho vay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 vượt quá mức hấp thụ thua lỗ cao hơn. Kết quả này được hỗ trợ bởi Salas và Saurina (2002) và Jimenez và Saurina (2006). Về các yếu tố vĩ mô, có các bằng chứng thực nghiệm quan trọng liên quan đến các hành vi theo chu kỳ của nợ xấu. Các nghiên cứu này cho rằng, tăng trưởng GDP thực tế cao hơn thường sẽ chuyển thành thu nhập tăng thêm giúp cải thiện khả năng trả nợ của khách hàng vay.
Ngược lại, tăng trưởng kinh tế giảm sẽ khiến nợ xấu tăng khi thất nghiệp tăng và người vay phải đối mặt với khó khăn khi hoàn trả khoản vay của mình.