chương 1 đã trình bày lý do lựa chọn và tính cấp thiết của đề tài; đặt ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và xác định phương pháp nghiên cứu; đồng thời nêu được ý nghĩa của đề tài mình thực hiện. Cuối cùng, tác giả đã đưa ra được bố cục dự kiến của luận văn để tạo cơ sở trình bày cho những chương tiếp theo. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm về thu nhập lãi cận biên của ngân hàng và đo lường 2. Khái niệm thu nhập lãi cận biên Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net interest margin- NIM) của ngân hàng được định nghĩa là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi chia cho tổng tài sản sinh lời. Biên độ được tính cho một khoảng thời gian, một quý hoặc một năm và được thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm (Golin, 2001). Hempel và cộng sự (1986) cho rằng thu nhập lãi cận biên là rất hữu ích trong việc đo lường những thay đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất và so sánh thu nhập lãi giữa các ngân hàng.
Đo lường thu nhập lãi cận biên NIM là tỷ số rất cần thiết để chúng ta tìm hiểu cách đo lường và các yếu tố ảnh hưởng bởi hai quyết định bên trong và bên ngoài như thế nào (Golin, 2001) 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 − 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑁𝐼𝑀 = = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó sinh 𝑙ờ𝑖 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑐ó sinh 𝑙ờ𝑖 Trong đó: NIM: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên. Thu nhập lãi thuần: là khoản chênh lệch giữa doanh thu lãi và chi phí lãi. Thu nhập lãi là tổng thu nhập lãi từ các khoản vay, đầu tư tài chính trong kỳ tính toán. Chi phí lãi chủ yếu phát sinh từ các khoản huy động vốn và vay nợ ngắn hoặc dài hạn.
Tổng tài sản có sinh lời là tổng các khoản mục Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác và cho vay các tổ chức tín dụng khác (không bao gồm dự phòng rủi ro), Cho vay khách hàng (không bao gồm dự phòng 11 rủi ro), Mua nợ (không bao gồm dự phòng rủi ro), Chứng khoán đầu tư (không bao gồm dự phòng giảm giá), phản ánh trên Bảng cân đối kế toán theo quy định của pháp luật về chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, được tính bình quân các quý trong năm (Phan Thị Thu Hà, 2013). Ý nghĩa của tỷ lệ thu nhập cận biên Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi trả lãi mà ngân hàng có được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Sự tăng giảm trong tỷ lệ thu nhập lãi cận biên giúp các nhà đầu tư có nhận định tương đối về lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng, từ đó đưa ra quyết định đầu tư hợp lý.
Đối với nhà quản trị ngân hàng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là thước đo trực quan về tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh truyền thống, đánh giá tính hợp lý giữa thu nhập và chi phí phải trả. Theo đánh giá của S&P thì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên dưới 3% được xem là thấp, trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao. Thực tế, NIM có xu hướng cao ở các ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, các ngân hàng thẻ tín dụng và các tổ chức cho vay hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia hay các tổ chức cho vay cầm cố. NIM tăng cho thấy hiệu quả quản trị tốt tài sản Nợ - Có, trong khi NIM giảm thấp và bị thu hẹp cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại.
Nếu chỉ xét đến vấn đề lợi nhuận thì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao sẽ có lợi cho ngân hàng, vì tỷ lệ lãi tạo ra trên tài sản sinh lời cao, là một dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang quản trị tốt Tài sản có và Tài sản nợ. Mặt khác, NIM cao mang đến sự ổn định nhất định cho hệ thống ngân hàng, khi mà lợi nhuận ngân hàng tăng lên 12 từ lãi cận biên cao và lợi nhuận này được chuyển thành vốn chủ hữu (lợi nhuận giữ lại) của ngân hàng, giúp ngân hàng đứng vững trước những biến động vĩ mô và những cú sốc kinh tế khác (Saunders và Schumacher 2000). Ngược lại, khi tỷ lệ thu nhập lãi cận biên thấp, phản ánh hệ thống ngân hàng có tính cạnh tranh một cách tương đối, với mức chi phí trung gian tài chính thấp có thể thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, nó cũng hàm ý rằng ngân hàng không thể cân đối nguồn tài sản có sinh lời của mình, khiến chi phí lãi lấn át thu nhập lãi tạo ra.
Khi đó, cho dù lợi nhuận chung của ngân hàng cao nhưng hiệu quả sử dụng vốn thật sự của ngân hàng vẫn thấp, vì điều đó chứng tỏ ngân hàng đã phụ thuộc nhiều vào các khoản thu ngoài lại – các khoản thu không ổn định và không phải là chức năng trọng tâm của ngân hàng thương mại. Theo Doliente (2005), nếu tỷ lệ thu nhập lãi cận biên rất thấp thì không thể được cho là kết quả tích cực, đặc biệt là trong môi trường kinh tế có sự can thiệp vào những ngân hàng yếu kém về vốn và hoạt động không ổn định đang tồn tại. Hạn chế của chỉ số tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chỉ mang tính tương đối khi so sánh lợi nhuận thuần từ lãi so với tổng tài sản có sinh lời. Một tỷ lệ thấp không hẳn do chi phí trả lãi để huy động nguồn vốn của ngân hàng quá cao, mà có thể do ngân hàng chưa cân đối nguồn tài sản có sinh lời của mình, khiến chi phí lãi lấn át thu nhập lãi tạo ra.
Đồng thời, đôi khi tỷ lệ này cao không phải do ngân hàng có nguồn thu lãi lớn mà do kết quả từ giảm thiểu chi phí và quản lý hiệu quả tài sản sinh lời. Ngoài ra, tỷ lệ này còn bị ảnh hưởng bởi chiến lược hoạt động của từng ngân hàng trong từng thời kỳ hay tình hình khó khăn chung của nền kinh tế. Vì vậy, việc đánh giá tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng cần có sự thận trọng xem xét đa dạng nhiều yếu tố cả vi mô lẫn vĩ mô. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Theo Trầm Thị Xuân Hương (2013) thì thu nhập là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngân hàng, vì vậy nâng cao thu nhập lãi của các 13 ngân hàng cũng có nghĩa là tăng cường năng lực tài chính, năng lực điều hành để tạo ra tích lũy và có điều kiện mở rộng các hoạt động kinh doanh góp phần củng cố và nâng cao thương hiệu của các ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, để NHTM hoạt động có hiệu quả hơn, đòi hỏi phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính chất rủi ro, bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của NHTM. Các nhân tố này có thể được chia làm hai nhóm: Nhóm nhân tố từ phía ngân hàng và nhóm nhân tố bên ngoài, tùy theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhóm nhân tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động của chính các ngân hàng thương mại. Nhóm nhân tố từ bên ngoài Tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người (GDP): Đối với một nền kinh tế thì ngân hàng có mức độ liên quan mật thiết đến gần như tất cả các ngành nghề hay lĩnh vực đời sống vì vậy mọi sự thay đổi của kinh tế - xã hội đều sẽ tác động ngược trở lại hệ thống ngân hàng. Nền kinh tế phát triển, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP cao, ổn định từ đó cũng tạo điều kiện cho sự phát triển thuận lợi của ngân hàng, thúc đẩy quả trình sản xuất kinh doanh cũng như hấp thụ vốn và hoàn trả vốn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Theo nghiên cứu của Almeida và Divino (2015) thì GDP có mối quan hệ đồng biến với thu nhập lãi cận biên. Theo Nasserinia và cộng sự (2014) thì lại cho rằng đây là mối quan hệ ngược chiều và theo Wahdan và cộng sự (2017) thì lại cho rằng không tồn tại mối quan hệ của hai yếu tố này. Tỷ lệ lạm phát: Tại bất cứ nền kinh tế của quốc gia nào trên thế giới thì luôn có tồn tại lạm phát, lạm phát tăng cao sẽ làm thay đổi mức giá chung trên nền kinh tế, tác động đến sâu sắc đến ngân hàng kể cả các hoạt động huy động vốn cũng như cho vay, nó cũng tác động đến cả doanh thu hay chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến mối liên hệ giữa lạm phát với lợi nhuận của ngân hàng.
San và cộng sự 14 năm (2013) cho kết quả lạm phát tác động cùng chiều với thu nhập lãi cận biên, Khrawish (2011) thì lại kết luận ngược lại lạm phát lại có quan hệ ngược chiều với NIM và Wahdan và cộng sự (2017) thì lại cho rằng không có sự tồn tại mối quan hệ của lạm phát và NIM. Nhóm nhân tố từ phía ngân hàng Nhóm nhân tố chủ quan được bàn đến chính là các nhân tố bên trong nội bộ của chính các ngân hàng thương mại như các nhân tố về: Quy mô ngân hàng: Trên thế giới có những công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và thu nhập lãi cận biên.