chương 1 tác giả cũng trình bày sơ lược về mục tiêu, phương pháp sử dụng đề nghiên cứu đề tài và những đóng góp khi nghiên cứu đề tài. Cuối cùng đề cập đến bố cục của luận văn chia thành 5 chương và tóm tắt ngắn gọn nội dung từng chương nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết Định nghĩa ổn định tài chính và bất ổn tài chính Mặc dù đã được sử dụng rộng rãi nhưng rất khó định nghĩa và đo lường ổn định tài chính.
Khái niệm về ổn định tài chính vẫn chưa được chấp nhận phổ biến, để hiểu được ổn định tài chính, rào cản đầu tiên là chưa có mô hình hoặc khuôn khổ được chấp nhận rộng rãi (Houben, Kakes & Schinasi, 2004). Tuy nhiên, đã có những nỗ lực trong việc xác định ổn định tài chính, một vài định nghĩa được đưa ra như sau: Houben & các cộng sự (2004) cho rằng “ổn định tài chính là sự thay đổi liên tục theo thời gian và nhất quán với nhiều sự kết hợp của các yếu tố cấu thành ổn định tài chính, theo đó ổn định tài chính là khả năng giúp hệ thống kinh tế phân bổ nguồn lực, quản lý rủi ro và hấp thụ các cú sốc kinh tế”. Theo Allen & Wood (2006) “ổn định tài chính là một đặc điểm của một hệ thống kinh tế không dễ xảy ra các giai đoạn bất ổn tài chính, giảm thiểu sự xáo trộn, chẳng hạn như sự kiện bất ngờ, cú sốc, sự phát triển không lường trước hoặc sự thất bại bất ngờ”. Davis (2003) xác định ba loại bất ổn tài chính chung, một là “thất bại của ngân hàng”, thường là sau khi các khoản vay hoặc giao dịch thua lỗ, hai là liên quan đến “sự biến động giá thị trường” sau sự thay đổi kỳ vọng, ba là vấn đề liên quan đến sự sụp đổ kéo dài của thanh khoản thị trường.
Sự ổn định tài chính được Segoviano & Goodhart (2009) xác định và phân tích thông qua ba lĩnh vực khác nhau, đó là sự khó khăn chung trong của các ngân hàng của hệ thống; sự khó khăn giữa các ngân hàng cụ thể; sự khó khăn trong hệ thống liên kết với một ngân hàng cụ thể. Một trong số những nghiên cứu liên quan đến bất ổn tài chính của Haldane, Hoggarth, Saporta & Sinclair (2004) đã đề xuất rằng bất ổn tài chính có thể được định nghĩa là “bất kỳ sự sai lệch nào so với kế hoạch tiết kiệm - đầu tư tối ưu của nền kinh tế do khuyết điểm từ lĩnh vực tài chính”. Tương tự, Goodhart (2004), Tsomocos 9 (2003) đưa ra các định nghĩa về ổn định tài chính dựa trên các tác động phúc lợi đối với nền kinh tế và các hệ quả phân phối phát sinh trong thời kỳ bất ổn tài chính. Ngân hàng Quốc gia Bỉ (2014) định nghĩa ổn định tài chính là cố gắng ngăn chặn sự hình thành của các lỗ hổng hệ thống theo thời gian và ngăn ngừa cũng như giảm thiểu rủi ro hệ thống cấu trúc phát sinh thông qua các lỗ hổng như mối liên kết giữa các trung gian tài chính, sự tập trung của sự phơi bày của các tổ chức và vai trò quan trọng của họ trong các thị trường chủ chốt, điều này có thể khiến họ trở nên quá quan trọng để thất bại Ổn định ngân hàng 2.
Định nghĩa ổn định ngân hàng Swamy (2014) định nghĩa rằng “ổn định ngân hàng là một trạng thái mà hệ thống tài chính có thể đồng thời thực hiện được các điều kiện bao gồm: sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực, đánh giá và quản lý rủi ro tài chính, hấp thụ những cú sốc đang xảy ra, đảm bảo thanh toán vẫn được thực hiện suôn sẻ, tăng cường trạng thái cân bằng bằng cách quản lý tài sản và sự biến động giá cả và cuối cùng là dẫn dắt nền kinh tế theo hướng có lợi về phúc lợi kinh tế. Ổn định ngân hàng phụ thuộc vào hiệu quả của một số thông số của từng ngân hàng như chất lượng tài sản, tính thanh khoản, hệ số an toàn vốn và khả năng sinh lời”. Theo đó, nghiên cứu cho rằng ổn định ngân hàng là thước đo để xác định xem liệu một nền kinh tế có đủ mạnh để chống lại các cú sốc bên trong và bên ngoài hay không, đồng thời nghiên cứu đưa ra nhận định rằng ổn định ngân hàng có vị thế đặc biệt vì chúng được coi là dễ bị mất ổn định hơn các lĩnh vực khác. Djebali & Zaghdoudi (2020) định nghĩa “một ngân hàng được coi là ổn định nếu nó đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản là nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế và loại bỏ sự mất cân đối do các yếu tố nội sinh của các sự kiện không lường trước hoặc không mong muốn từ các rủi ro ngân hàng khác nhau”, nghiên cứu đưa ra quan điểm rằng ổn định ngân hàng rất khó xác định và thậm chí là khó đo lường.
Một hệ thống ngân hàng có thể được mô tả là không ổn định khi có sự biến động quá mức của tài sản hoặc gây ra khủng hoảng. Nghiên cứu này cũng cho rằng định nghĩa về ổn định 10 ngân hàng như vậy là đơn giản để xây dựng, nhưng không thể hiện được đóng góp tích cực trong việc hiểu về sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng. Brunnermeier & các cộng sự (2009) định nghĩa rằng “ổn định ngân hàng là không xảy ra khủng hoảng ngân hàng. Ổn định ngân hàng đạt được thông qua sự ổn định của tất cả các ngân hàng trong hệ thống hoặc lĩnh vực ngân hàng”.
Theo Segoviano & Goodhart (2009), đối với các ngân hàng trong hệ thống có sự thuộc lẫn nhau, ổn định ngân hàng có thể được định nghĩa là “sự ổn định của các ngân hàng liên kết với nhau hoặc trực tiếp thông qua thị trường tiền gửi liên ngân hàng; việc tham gia vào các khoản cho vay hợp vốn hoặc gián tiếp thông qua cho vay các lĩnh vực thông thường và các ngành nghề tự doanh”. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho rằng các nhân tố quyết định ổn định ngân hàng và ảnh hưởng của nó đối với sự ổn định của hệ thống tài chính sẽ khác nhau giữa các quốc gia, do đó, các nhà giám sát ngân hàng quốc gia quan tâm đến việc tìm hiểu các yếu tố quyết định sự ổn định của ngân hàng. Các tài liệu thực nghiệm chứng minh một số yếu tố kinh tế, cấu trúc tài chính, các quy định và các yếu tố thể chế ảnh hưởng đến sự ổn định của ngân hàng. Vai trò của ổn định ngân hàng trong ổn định tài chính Vấn đề ổn định tài chính và ổn định ngân hàng đã được đặt câu hỏi nhiều lần, trong đó ổn định ngân hàng chính là một khía cạnh quan trọng cần được đại diện cho ổn định tài chính để phân tích (Diaconu & Oanea, 2015).
Theo Djebali & Zaghdoudi (2020), ổn định ngân hàng là một đặc điểm của sự ổn định tài chính, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính của mỗi quốc gia. Ngành ngân hàng được coi là ngành quan trọng đối với sự ổn định của hệ thống tài chính vì ngân hàng đóng vai trò chính trong việc tạo tiền, đầu tư cho tăng trưởng kinh tế, cung cấp tài chính cho doanh nghiệp và hộ gia đình và trong hệ thống thanh toán. Ổn định tài chính và ổn định ngân hàng có mối liên hệ khá chặt chẽ với nhau. Theo nghiên cứu của Swamy (2014), sự khác biệt của ổn định ngân hàng từ góc độ ổn định tài chính là một ý tưởng được thừa nhận rõ ràng.
Ngân hàng có vị thế đặc 11 biệt vì chúng được coi là dễ bị bất ổn hơn các lĩnh vực khác. Mặt khác, sự ổn định tài chính là sản phẩm phụ của các điều kiện ổn định phổ biến trong hệ thống ngân hàng, thị trường tài chính và nền kinh tế thực, nghiên cứu rút ra tầm quan trọng của sự ổn định ngân hàng đối với sự ổn định tài chính bởi vì ở cấp độ vi mô, sự ổn định của hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào mức độ an toàn vốn tài sản, chất lượng tài sản, thu nhập và khả năng thanh khoản của từng ngân hàng. Đồng thời, theo Popovska (2014), tình hình của khu vực ngân hàng thường được coi là yếu tố quyết định chính đến sự ổn định tài chính, theo đó, sự ổn định tài chính ở các nền kinh tế phát triển chủ yếu được xác định bởi điều kiện của các tổ chức tài chính phi ngân hàng (quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, quỹ cổ phần tư nhân, nhà môi giới, v.), không giống như ở các nước đang phát triển nơi sàn giao dịch chứng khoán, các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và các công ty bảo hiểm còn kém phát triển và nơi đầu tư dựa vào các khoản vay ngân hàng truyền thống, ngân hàng là trụ cột chính của sự ổn định tài chính và sự ổn định chung của nền kinh tế. Hellwig (1991) có một cái nhìn khác về vấn đề này và cho rằng các ngân hàng là đặc biệt bởi vì ngân hàng đại diện cho sự sẵn có của nguồn vốn và các chính phủ muốn thực hiện kiểm soát chặt chẽ hơn.
Trong khi đó, nghiên cứu của De Bandt, Hartmann, & Peydró (2002) cho rằng xuất phát từ những năm gần đây, các ngân hàng tham gia vào thị trường cho vay và thanh toán liên ngân hàng một cách mạnh mẽ. Những mối liên kết giữa các ngân hàng trong trường hợp không có các điều khoản của mạng lưới an toàn sẽ có nguy cơ lan truyền rủi ro từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, tạo ra rủi ro “lây nhiễm” liên ngân hàng - một dạng rủi ro hệ thống. Vì vậy, đặc điểm của ổn định hệ thống ngân hàng là một ý tưởng được thừa nhận rộng rãi trong các nghiên cứu về ổn định tài chính (Goodhart, 1987). Sự ổn định trong hệ thống ngân hàng là một vấn đề quan trọng được cả các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách quan tâm.
Các nhà nghiên cứu, học giả, cơ quan quản lý và hoạch định chính sách đang nỗ lực tìm hiểu nguồn gốc và động lực của sự bất ổn ngân hàng (Uddin & các cộng sự, 2020).