Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại đóng vai trò huyết mạch trong việc cung ứng vốn cho các chủ thể sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, sự tăng trưởng tín dụng quá mức trong một số giai đoạn đã dẫn đến tình trạng suy giảm khả năng kiểm soát chất lượng tín dụng, làm gia tăng nợ xấu, bào mòn lợi nhuận và đe dọa khả năng thanh khoản của toàn hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) là một trong những định chế tài chính bán lẻ quy mô lớn nhưng có giai đoạn ghi nhận tỷ lệ nợ xấu ở mức cao trong hệ thống, đặc biệt sau những biến động thị trường và quá trình tái cấu trúc sáp nhập. Nhằm tìm ra các cơ sở thực nghiệm phục vụ việc điều chỉnh chính sách tín dụng và quản trị rủi ro, tác giả Đặng Ngọc Bảo Thắng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Nhân tố tác động đến tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong giai đoạn 2008 – 2017" dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hoàng Thị Thanh Hằng tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (2018).

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu tổng quát: Xác định các nhân tố tác động đến tỷ lệ nợ xấu (NPL) tại Sacombank giai đoạn 2008 – 2017 theo chuỗi thời gian quý, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm kiểm soát và hạn chế nợ xấu cho ngân hàng.
  • Ba mục tiêu cụ thể:
    1. Phân tích tình hình hoạt động tín dụng và thực trạng tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
    2. Xác định và đo lường mức độ tác động của các yếu tố nội tại và yếu tố vĩ mô đến tỷ lệ nợ xấu của Sacombank.
    3. Đề ra các hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng và giảm thiểu rủi ro nợ xấu cho Sacombank.

Nhiệm vụ nghiên cứu tập trung giải quyết 3 câu hỏi chính:

  1. Thực trạng tình hình hoạt động tín dụng và nợ xấu tại ngân hàng Sacombank diễn ra như thế nào trong giai đoạn 2008 – 2017?
  2. Những yếu tố nội tại của ngân hàng và yếu tố vĩ mô nào tác động đến tỷ lệ nợ xấu tại ngân hàng Sacombank?
  3. Cần đưa ra những giải pháp và hàm ý quản trị nào để nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro nợ xấu tại ngân hàng?
  • Đối tượng nghiên cứu: Tỷ lệ nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
  • Phạm vi nghiên cứu: Số liệu thứ cấp theo quý từ Quý I/2008 đến Quý IV/2017 (tổng cộng 40 quan sát) thu thập từ báo cáo tài chính của Sacombank, số liệu Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới (World Bank).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm pháp lý và lý thuyết tài chính ngân hàng quốc tế:

  • Khung pháp lý và phân loại nợ: Áp dụng định nghĩa nợ xấu theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2004), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2004) và Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS, 2006) dựa trên hai tiêu chuẩn: quá hạn trên 90 ngày và có nghi ngờ về khả năng hoàn trả nợ. Tại Việt Nam, phân loại nợ tuân thủ Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chia nợ thành 5 nhóm: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), Nhóm 2 (Nợ cần chú ý - quá hạn dưới 90 ngày), Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn - quá hạn từ 90 đến 180 ngày), Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ - quá hạn từ 181 đến 360 ngày), Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn - quá hạn trên 360 ngày). Tỷ lệ nợ xấu (NPL) được tính bằng tổng dư nợ các nhóm 3, 4, 5 chia cho tổng dư nợ tín dụng.
  • Các giả thuyết lý thuyết nền tảng:
    1. Lý thuyết quản lý kém hiệu quả (Bad management hypothesis) của Berger và DeYoung (1997), Podpiera và Weill (2008): Ngân hàng có năng lực quản lý chi phí và thẩm định tín dụng kém sẽ làm phát sinh chi phí giám sát cao và gia tăng nợ xấu.
    2. Lý thuyết "Quá lớn không thể sụp đổ" (Too big to fail) của Boyd và Gertler (1994): Tâm lý ỷ lại vào sự bảo trợ của Nhà nước khiến các ngân hàng quy mô lớn có xu hướng theo đuổi các danh mục cho vay mạo hiểm.
    3. Lý thuyết mức độ kiểm soát của chủ sở hữu (Berle & Means): Mức độ tập trung sở hữu vốn cao giúp tăng cường tính thận trọng và giám sát chặt chẽ các khoản cấp tín dụng (Shehzad và cộng sự, 2010; Iannotta, 2017).
    4. Lý thuyết rủi ro đạo đức (Moral hazard) của Paul (2009): Phát sinh từ tình trạng bất đối xứng thông tin giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn, hoặc do ngân hàng nới lỏng chuẩn thẩm định nhằm chạy theo mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn.

Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng mô hình hồi quy đa biến bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS) trên chuỗi thời gian 40 quý với sự hỗ trợ của phần mềm EViews 8.0. Mô hình hồi quy tổng quát có dạng:

$$\text{NPL}_t = \alpha + \beta_1 \text{EQT}_t + \beta_2 \text{LIQ}_t + \beta_3 \text{ROE}_t + \beta_4 \text{NIM}_t + \beta_5 \text{OI}_t + \beta_6 \text{GDP}_t + u_t$$

Ký hiệu biến Tên biến và cách tính toán Kỳ vọng dấu Nguồn nghiên cứu tham khảo
NPL Tỷ lệ nợ xấu = Tổng nợ nhóm 3 đến 5 / Tổng dư nợ (%) Biến phụ thuộc Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
EQT Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản = Tổng vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản (%) (-) Hippolyte Fofack (2005), Zribi & Boujelbène (2011), Godlewski (2004)
LIQ Tỷ lệ thanh khoản = Tài sản thanh khoản cao (tiền mặt, tiền gửi NHNN, tiền gửi/cho vay TCTD, chứng khoán KD) / Tổng tài sản (%) (-) Keeton & Morris (2013)
ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu (%) (-) Louzis và cộng sự (2012), Makri và cộng sự (2014), Messai & Jouini (2013)
NIM Tỷ lệ lãi suất cận biên = Thu nhập lãi thuần / Tổng tài sản có sinh lãi (%) (+) Dungey & Poghosyan (2011), Were & Wambua (2014), Nguyễn & Đỗ (2014)
OI Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi = Lãi thuần từ hoạt động khác / Tổng lãi thuần hoạt động (%) (-) Louzis và cộng sự (2012), Stiroh (2004)
GDP Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân theo quý (%) (-) Castro (2013), Chaibi & Ftiti (2014), Võ Thị Ngọc và cộng sự (2014)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của việc kiểm soát rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Tác giả trình bày bối cảnh tăng trưởng tín dụng tiêu dùng và bán lẻ, vị thế của Sacombank và các áp lực nợ xấu phát sinh. Chương này xác định rõ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi dữ liệu theo quý từ năm 2008 đến 2017, đóng góp mới của đề tài trong việc nghiên cứu trường hợp chuyên sâu một ngân hàng thương mại cổ phần và bố cục tổng thể gồm 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chương này tổng hợp các cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại (Nghị định 59/2009/NĐ-CP, Luật Các tổ chức tín dụng), bản chất hoạt động tín dụng và phân loại nợ xấu. Tác giả đi sâu phân tích 4 giả thuyết kinh tế học chi phối hành vi tín dụng và nợ xấu: quản lý kém hiệu quả, ngân hàng quá lớn không thể phá sản, mức độ kiểm soát của chủ sở hữu và rủi ro đạo đức. Đồng thời, chương 2 thực hiện khảo lược hệ thống các công trình nghiên cứu thực nghiệm quốc tế (Fofack, 2005; Salas & Saurina, 2002; Castro, 2013; Chaibi & Ftiti, 2014; Makri, 2014; Messai & Jouini, 2013; Godlewski, 2004; Louzis và cộng sự, 2012; Nkusu, 2011; Podpiera & Weill, 2008) và các nghiên cứu trong nước (Võ Thị Ngọc, Lê Vĩnh Triển, Hồ Diệp, 2014; Võ Thị Quý & Bùi Ngọc Toản, 2014; Nguyễn Thị Hồng Vinh, 2015), làm cơ sở xây dựng mô hình thực nghiệm.

Chương 3: Mô hình nghiên cứu

Chương 3 xây dựng quy trình nghiên cứu 7 bước (từ xác định vấn đề đến thảo luận kết quả) và thiết lập mô hình hồi quy đa biến OLS với 6 biến độc lập. Tác giả định nghĩa chi tiết công thức đo lường từng biến số tài chính vi mô của Sacombank và biến kinh tế vĩ mô GDP, giải thích cơ chế tác động lý thuyết và xác lập kỳ vọng dấu tương ứng. Quy trình phân tích 4 bước trên EViews 8.0 được xác lập: thống kê mô tả chuỗi dữ liệu, chạy hồi quy Pooled OLS và thực hiện các kiểm định khuyết tật mô hình (kiểm định đa cộng tuyến qua ma trận tương quan, kiểm định phương sai thay đổi White, kiểm định tự tương quan Breusch – Godfrey bậc 1 và bậc 2).

Chương 4: Thực hiện và phân tích kết quả mô hình nghiên cứu

Chương 4 mở đầu bằng tổng quan về Sacombank: thành lập năm 1991 với vốn điều lệ 3 tỷ đồng và 100 nhân sự; đến 31/12/2017 vốn điều lệ đạt 18.000 tỷ đồng; niêm yết mã chứng khoán STB năm 2006; triển khai core banking T24 R8 năm 2009 và sáp nhập Ngân hàng Phương Nam (Southern Bank) năm 2015.

Tình hình tín dụng năm 2017 ghi nhận tổng dư nợ cho vay khách hàng đạt 222.978 tỷ đồng (+12,11% so với đầu năm, nếu loại trừ nợ bán cho VAMC thì tăng 18,9%), trong đó cho vay cá nhân đạt 130.981 tỷ đồng và doanh nghiệp đạt 92.053 tỷ đồng (chiếm 41,3%). Tăng trưởng cho vay dài hạn tăng 46,71% năm 2016 và 32,25% năm 2017. Về công tác xử lý nợ, năm 2017 Sacombank đã xử lý 19.665 tỷ đồng nợ xấu và tài sản tồn đọng (trong đó thuộc Đề án tái cơ cấu là 15.365 tỷ đồng; thu hồi nợ gốc VAMC 9.170 tỷ đồng, tất toán 7.517 tỷ đồng trái phiếu VAMC; thu hồi/xử lý tài sản cấn trừ 2.786 tỷ đồng). Đến ngày 31/12/2017, nợ quá hạn giảm xuống 4,99% (giảm 5.036 tỷ đồng) và tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 4,59% (giảm 3.340 tỷ đồng).

Biến số Giá trị trung bình (Mean) Trung vị (Median) Giá trị lớn nhất (Max) Giá trị nhỏ nhất (Min) Độ lệch chuẩn (Std. Dev.)
NPL 0,017300 (1,73%) 0,010363 0,063600 (6,36% - Q2/2017) 0,001900 (0,19% - Q1/2008) 0,017865
EQT 0,090400 (9,04%) 0,089350 0,119700 (11,97% - Q3/2008) 0,062700 (6,27% - Q3/2017) 0,014902
ROE 0,028100 (2,81%) 0,029750 0,073500 (7,35% - Q2/2010) -0,064900 (-6,49% - Q4/2012) 0,026731
LIQ 0,162000 (16,20%) 0,158300 0,285200 (28,52% - Q3/2008) 0,045200 (4,52% - Q4/2017) 0,064871
NIM 0,008900 (0,89%) 0,009100 0,014300 (1,43% - Q4/2011) 0,001100 (0,11% - Q3/2008) 0,003247
OI 0,257600 (25,76%) 0,248500 0,514000 (51,40% - Q4/2009) 0,008600 (0,86% - Q2/2013) 0,114328
GDP 0,058185 (5,82%) 0,058600 0,076500 (7,65% - Q4/2017) 0,031000 (3,10% - Q1/2008) 0,011245

Kết quả hồi quy mô hình với 40 quan sát đạt hệ số xác định $R^2 = 75,3%$, chứng minh 6 biến độc lập giải thích được 75,3% sự biến thiên của tỷ lệ nợ xấu tại Sacombank. Các phát hiện thống kê cho thấy:

  • Biến EQT tác động ngược chiều đến NPL ở mức ý nghĩa 1%: khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản tăng 1% thì tỷ lệ nợ xấu giảm 0,45%.
  • Biến LIQ tác động ngược chiều đến NPL ở mức ý nghĩa 1%: khi tỷ lệ tài sản thanh khoản tăng 1% thì tỷ lệ nợ xấu giảm 0,08%.
  • Biến NIM và OI có mối quan hệ tác động ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu.
  • Biến GDP và ROE không có ý nghĩa thống kê trong mẫu nghiên cứu này. Các kiểm định khuyết tật mô hình (kiểm định White, Breusch – Godfrey bậc 1 và bậc 2) xác nhận mô hình không vi phạm hiện tượng tự tương quan nghiêm trọng và phương sai sai số thay đổi.

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Chương cuối cùng tổng kết các kết quả nghiên cứu định lượng, phân tích nguyên nhân các biến EQT, LIQ, NIM, OI có tác động ngược chiều đến tỷ lệ nợ xấu và nêu rõ lý do biến GDP, ROE chưa thể hiện ý nghĩa thống kê. Trên cơ sở đó, tác giả khuyến nghị các giải pháp quản trị: duy trì đệm vốn chủ sở hữu an toàn, quản lý thanh khoản linh hoạt, gia tăng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ ngoài lãi, tăng cường kiểm soát sau sáp nhập và chỉ ra các hạn chế nghiên cứu cần hoàn thiện.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa cụ thể các yếu tố vi mô và vĩ mô tác động đến nợ xấu của Sacombank trong chu kỳ 10 năm (2008 – 2017):

  • Mô hình đạt độ thích hợp cao với $R^2 = 75,3%$. Kết quả thực nghiệm khẳng định tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EQT) và tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản cao (LIQ) là hai nhân tố then chốt giúp kiềm chế nợ xấu tại Sacombank (đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%). Cụ thể, khi EQT tăng 1%, NPL giảm 0,45%; khi LIQ tăng 1%, NPL giảm 0,08%.
  • Chỉ số NIM và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi (OI) có tác động ngược chiều với NPL, chứng minh chiến lược đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và tối ưu hóa biên thu nhập lãi giúp phân tán rủi ro tín dụng.
  • Phân tích thực tế cho thấy nợ xấu của Sacombank biến động mạnh qua các mốc lịch sử: thấp nhất ở mức 0,19% vào Quý I/2008 nhờ ứng dụng mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ từ năm 2005; tăng cao trong giai đoạn 2009 – 2013 (lên 8,47% năm 2013) do thị trường bất động sản đóng băng; giảm trong 2014 – 2015 nhờ cơ chế mua nợ của VAMC và Thông tư 36/2014/TT-NHNN; sau đó tăng vọt lên mức đỉnh 6,36% vào Quý II/2017 do tiếp nhận hơn 4.000 tỷ đồng nợ xấu tồn đọng từ thương vụ sáp nhập Ngân hàng Phương Nam vào tháng 10/2015.
  • Đóng góp về mặt giải pháp: Đề xuất Sacombank cần tăng cường kiểm soát quy mô vốn chủ sở hữu, giám sát chặt chẽ tỷ trọng cho vay bất động sản dài hạn (vốn tăng trưởng 46,71% năm 2016 và 32,25% năm 2017), đồng thời đẩy mạnh thu hồi nợ xấu qua việc tất toán trái phiếu đặc biệt VAMC và xử lý tài sản cấn trừ.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận cập nhật chuỗi số liệu theo quý liên tục kéo dài 10 năm (40 quý), phản ánh rõ nét tác động của các cú sốc tài chính và các sự kiện tái cơ cấu M&A đặc thù của riêng Sacombank thay vì phân tích dữ liệu gộp chung toàn hệ thống ngân hàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự nhận định:

  • Dữ liệu nghiên cứu mới chỉ giới hạn trên phạm vi đơn lẻ của một ngân hàng thương mại (Sacombank) bằng phương pháp hồi quy chuỗi thời gian OLS, chưa thực hiện so sánh chéo đa chiều với các ngân hàng thương mại cổ phần khác trong cùng hệ thống.
  • Biến số kinh tế vĩ mô tốc độ tăng trưởng GDP và biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) trong mô hình chưa thể hiện được ý nghĩa thống kê, cho thấy mô hình có thể chưa bao quát hết các yếu tố vĩ mô khác (như tỷ lệ lạm phát, lãi suất cho vay thực tế, tỷ lệ thất nghiệp) hoặc các biến vi mô về chất lượng tài sản thế chấp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Mở rộng mẫu nghiên cứu sang dữ liệu bảng (Panel Data) bao gồm nhiều ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam để kiểm chứng tính đại diện.
  • Thu thập và bổ sung thêm các biến số phân loại theo từng danh mục cho vay cụ thể (cho vay khách hàng cá nhân, cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay bất động sản) nhằm làm rõ hơn nguyên nhân gốc rễ dẫn đến nợ xấu.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên ngành Tài chính – Ngân hàng: Tham khảo phương pháp xây dựng mô hình định lượng chuỗi thời gian OLS, quy trình đo lường các biến số tài chính ngân hàng (NPL, EQT, LIQ, NIM, OI, ROE) và kỹ thuật thực hiện các kiểm định khuyết tật mô hình (White test, Breusch – Godfrey test) trên phần mềm EViews 8.0.
  • Người nghiên cứu về rủi ro tín dụng và tái cơ cấu ngân hàng: Khóa luận cung cấp chuỗi số liệu thực tế chi tiết về tác động của thương vụ sáp nhập ngân hàng yếu kém (trường hợp sáp nhập Southern Bank vào Sacombank năm 2015) đối với sự gia tăng nợ xấu và các số liệu cụ thể về kết quả xử lý nợ qua công cụ VAMC năm 2017.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Bảng thống kê mô tả số liệu quý (Chương 4, Bảng 4.3), hệ thống lý giải nguyên nhân biến động nợ xấu qua từng thời kỳ kinh tế và quy trình xử lý 19.665 tỷ đồng nợ xấu tồn đọng tại Sacombank năm 2017.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của Sacombank biến động như thế nào trong giai đoạn 2008 – 2017?
Trong giai đoạn 2008 – 2017, tỷ lệ nợ xấu trung bình của Sacombank là 1,73%. Mức thấp nhất ghi nhận là 0,19% vào Quý I/2008 nhờ hiệu quả của mô hình chấm điểm tín dụng nội bộ đưa vào áp dụng từ năm 2005. Mức cao nhất trong mẫu dữ liệu quý là 6,36% vào Quý II/2017, nguyên nhân chính do ngân hàng phải tiếp nhận và xử lý khoản nợ xấu hơn 4.000 tỷ đồng sau khi sáp nhập Ngân hàng Phương Nam vào tháng 10/2015.

2. Những nhân tố nào có tác động có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ nợ xấu của Sacombank trong mô hình?
Kết quả hồi quy OLS chỉ ra rằng biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EQT) và biến tỷ lệ tài sản thanh khoản cao trên tổng tài sản (LIQ) có tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đối với NPL (EQT tăng 1% giúp NPL giảm 0,45%; LIQ tăng 1% giúp NPL giảm 0,08%). Ngoài ra, tỷ lệ lãi suất cận biên (NIM) và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi (OI) cũng tác động ngược chiều đến NPL.

3. Sự kiện sáp nhập Ngân hàng Phương Nam (Southern Bank) năm 2015 đã tác động ra sao đến Sacombank?
Thương vụ sáp nhập vào tháng 10/2015 đã khiến Sacombank phải gánh thêm khoản nợ xấu tồn đọng hơn 4.000 tỷ đồng, làm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng tăng vọt trong giai đoạn 2016 – 2017 và khiến kết quả kinh doanh bị thua lỗ, ghi nhận chỉ số ROE âm vào Quý IV/2015 và Quý IV/2016.

4. Kết quả xử lý nợ xấu và tài sản tồn đọng của Sacombank đạt được trong năm 2017 là bao nhiêu?
Tính đến cuối năm 2017, Sacombank đã xử lý được 19.665 tỷ đồng nợ xấu và tài sản tồn đọng (trong đó các khoản thuộc đề án tái cơ cấu là 15.365 tỷ đồng). Ngân hàng đã thu hồi 9.170 tỷ đồng nợ gốc VAMC, tất toán 7.517 tỷ đồng trái phiếu VAMC và thu hồi, xử lý 2.786 tỷ đồng tài sản cấn trừ; đưa tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2017 giảm từ 6,81% xuống còn 4,59%.

5. Vì sao các biến GDP và ROE lại không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu này?
Trong chuỗi 40 quan sát theo quý của Sacombank, biến tăng trưởng GDP và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) không đạt ý nghĩa thống kê do các yếu tố nội tại đặc thù của Sacombank trong giai đoạn này (đặc biệt là biến cố nhận sáp nhập ngân hàng yếu kém và áp lực trích lập dự phòng xử lý nợ) chi phối mạnh mẽ hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh tế chung và biến động lợi nhuận sau thuế ngắn hạn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Ngọc Bảo Thắng đã phân tích toàn diện thực trạng chất lượng tín dụng và lượng hóa các nhân tố tác động đến tỷ lệ nợ xấu của Sacombank giai đoạn 2008 – 2017. Thông qua mô hình hồi quy OLS trên chuỗi dữ liệu 40 quý với hệ số $R^2 = 75,3%$, nghiên cứu đã chứng minh vai trò then chốt của việc củng cố vốn chủ sở hữu và nâng cao năng lực thanh khoản trong việc giảm thiểu nợ xấu. Đồng thời, các dẫn chứng thực tế về thương vụ sáp nhập năm 2015 và kết quả xử lý nợ qua VAMC năm 2017 đem lại giá trị tham khảo thực tiễn cao cho công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.