chương 1, và cơ sở lý luận cùng mô hình nghiên cứu ở chương 2, chương này đặc biệt giới thiệu quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu Chương 4 sẽ mô tả mẫu và giới thiệu kết quả của nghiên cứu sau khi phân tích dữ liệu. Dựa trên kết quả này, tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về mỗi nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của khách hàng doanh nghiệp. Chƣơng 5: Kết luận và giải pháp Chương 5 tóm tắt những kết luận chính của nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp dựa trên kết quả của những chương trước.
Tác giả cũng nhìn nhận một số hạn chế của đề tài và đưa ra hướng nghiên cứu trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Tóm tắt chƣơng 1 Trong bối cảnh chất lượng dịch vụ ngang bằng và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế là ngày càng gay gắt, tác giả đã chọn thực hiện đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế và mức độ ảnh hưởng của chúng. Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi các ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh và thông qua 2 bước nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu sẽ giúp phần nào lắp được lỗ hỏng trong lý thuyết về chủ đề này và là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các ngân hàng, giúp các ngân hàng biết được khách hàng lựa chọn ngân hàng như thế nào, từ đó đề ra chiến lược hiệu quả để thu hút và giữ chân khách hàng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 giới thiệu cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế, đặc điểm và rủi ro của từng phương thức đối với cả người bán và người mua. Bên cạnh đó tác giả sẽ khái quát tình hình cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế tại các ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, để người đọc có cái nhìn bao quát về thực trạng này. Tiếp theo, tác giả sẽ giới thiệu những nghiên cứu trong quá khứ về quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng doanh nghiệp kèm theo những tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng cụ thể. Từ đó, tác giả xây dựng giả thuyết và đề nghị mô hình nghiên cứu.
Lý luận về thanh toán quốc tế 2. Khái niệm thanh toán quốc tế và phƣơng thức thanh toán quốc tế Trong quan hệ quốc tế sâu rộng giữa các quốc gia, quan hệ kinh tế (mà chủ yếu là ngoại thương) vẫn giữ một vị trị vô cùng quan trọng và là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển. Các hoạt động trao đổi quốc tế dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau từ đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò cầu nối giữa các bên. Như vậy, Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
Khái niệm trên cho thấy thanh toán quốc tế phục vụ cả hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế. Tuy được phân chia như vậy nhưng trong thực tế giữa hai lĩnh vực này thường giao thoa với nhau. Trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các ngân hàng thương mại, người ta thường phân loại hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ ràng là: thanh toán trong ngoại thương (hay thanh toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (hay thanh toán phi mậu dịch) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 - Thanh toán trong ngoại thương: là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa nhập khẩu và cung ứng các dịch vụ thương mại cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương.
- Thanh toán phi ngoại thương: là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hoá xuất nhâp khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại. Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân, các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho cá nhân trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước. Việc thanh toán giữa hai chủ thể thuộc hai quốc gia khác nhau phải được tiến hành thông qua ngân hàng bằng những phương thức thanh toán nhất định. Trần Hoàng Ngân (2008) đã định nghĩa phương thức thanh toán quốc tế là cách thức thực hiện chi trả một hợp đồng xuất nhập khẩu thông qua trung gian ngân hàng bằng cách trích tiền từ tài khoản của nhà nhập khẩu chuyển vào tài khoản của nhà xuất khẩu căn cứ vào hợp đồng ngoại thương và chứng từ do hai bên cung cấp cho ngân hàng.
Việc lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế nào tùy thuộc vào sự thương lượng giữa hai bên và phù hợp với tập quán cũng như luật lệ trong thanh toán và buôn bán quốc tế. vụ thanh toán quốc tế tại các ngân hàng 2. Các phƣơng thức thanh toán quốc tế thông dụng Thanh toán quốc tế đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới và chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng trên toàn cầu. Ba phương thức thanh toán quốc tế thông dụng nhất hiện nay là: phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ.
Trần Hoàng Ngân (2008) đã giới thiệu 3 phương thức này như sau [6] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chuyển tiền (Telegraphic Transfer - TT) Chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó một khách hàng của ngân hàng (gọi là người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định. Chuyển tiền gồm có hai hình thức: chuyển tiền trả trước và chuyển tiền trả sau. Chuyển tiền trả sau là hình thức chuyển tiền trả cho người xuất khẩu trước khi nhận hàng.
Ngược lại, chuyển tiền trả trước là hình thức mà trong đó người xuất khẩu được chuyển tiền trước khi giao hàng. Trên thực tế, hai phía có thể áp dụng chuyển tiền “hỗn hợp”, tức là trả trước một phần, trả sau một phần theo một tỷ lệ nhất định để giảm thiểu rủi ro cho cả hai. Trong phương thức này, ngân hàng phục vụ người chuyền tiền sẽ thực hiện việc chuyển tiền trong khi ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sẽ tiến hành báo có. Có thể nói, chuyển tiền là nghiệp vụ thanh toán đơn giản, trong đó người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau.
Ngân hàng khi thực hiện chuyển tiền chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng phí và không bị ràng buộc bất cứ trách nhiệm gì đối với người chuyển và người thụ hưởng. Ƣu nhƣợc điểm và điều kiện vận dụng: Trong phương thức chuyển tiền, ngân hàng chỉ là trung gian thực hiện chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng và nhận phí dịch vụ chứ không bị ràng buộc gì cả. Việc giao hàng của bên xuất khẩu và trả tiền của bên nhập khẩu hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí của mỗi bên. Vì vậy, quyền lợi của người xuất khẩu khó đảm bảo nếu chuyển tiền trả sau.
Trái lại, quyền lợi của người nhập khẩu khó đảm bảo nếu chuyển tiền trả trước. Phương thức chuyển tiền có ưu điểm là thủ tục thanh toán đơn giản, thời gian thanh toán nhanh chóng và phí dịch vụ ngân hàng thấp so với các phương thức khác. Bên xuất khẩu và nhập khẩu thường áp dụng phương thức này trong trường hợp hai bên mua bán có quan hệ lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hay khi giá trị hợp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 đồng mua bán không lớn lắm. Khi phát sinh mâu thuẫn quyền lợi hoặc thiếu tín nhiệm lẫn nhau, trong thương lượng hai bên sử dụng phương thức khác thích hợp.
Nhờ thu (Collection) Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tiến hàng ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ nhà nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu và chứng từ do người xuất khẩu lập ra. Trong phương thức nhờ thu, các ngân hàng tham gia vào quá trình thanh toán sâu hơn so với phương thức chuyển tiền. Mức độ tham gia của các ngân hàng vào quá trình nhờ thu phụ thuộc hoàn toàn vào nội dung các chỉ thị và những gì (chứng từ) mà người bán ủy quyền cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ. Điểm cần lưu ý là trong mọi trường hợp thì hành động của ngân hàng luôn tuân theo các quy tắc chuẩn quốc tế, đó là Uniform Rules For Collection No.522- Qui tắc thống nhất về nhờ thu số 522, bản sửa đổi năm 1995 do Phòng Thương mại Quốc tế ban hành.
Các loại nhờ thu căn bản - Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collections) Nhờ thu phiếu trơn là phương thức thanh toán, trong đó, người bán gửi hàng và bộ chứng từ thương mại trực tiếp cho người mua, sau đó gửi yêu cầu đòi tiền (hối phiếu ký phát) qua ngân hàng phục vụ mình để ngân hàng này thu hộ số tiền hối phiếu. Trong phương thức nhờ thu phiếu trơn, người bán mất quyền kiểm soát hàng hóa và chưa được thanh toán cũng như không có bảo lãnh thanh toán ngay từ lúc hàng gửi đi, do đó rủi ro thanh toán hoàn toàn thuộc về người bán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 - Nhờ thu kèm chứng từ dạng DA (Document Collection DA) Đây là nhờ thu, trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở bộ chứng từ. Bộ chứng từ nhờ thu bao gồm yêu cầu đòi tiền (hối phiếu) và kèm theo chứng từ thương mại.