Đặt vấn đề nghiên cứu Trên thế giới, ngành tài chính ngân hàng phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Đặc biệt từ năm 2007, với sự gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam bước sang một trang mới, ngành tài chính ngân hàng cũng có một sự phát triển mạnh mẽ trước nay chưa từng thấy. Các ngân hàng thương mại ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế với vai trò là các trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi dưới các hình thức tiền gửi và cung cấp lại cho các chủ thể cần vốn dưới hình thức cho vay.
Đây là nhóm trung gian tài chính lớn nhất và được giao dịch thường xuyên nhất giúp “bôi trơn” nền kinh tế thông qua ba chức năng chính: chức năng trung gian tín dụng, chức năng tạo tiền và chức năng trung gian thanh toán. Trong ba chức năng này, chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì bên cạnh vai trò cung ứng vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất liên tục, mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, với chức năng trung gian tín dụng, các ngân hàng thương mại còn thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất nhận tiền gửi và lãi suất cho vay. Đây cũng là lợi nhuận chính cho các ngân hàng thương mại. Chính vì vậy, tăng trưởng tín dụng luôn được các ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng đặc biệt quan tâm.
Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng thường đi kèm với rủi ro tín dụng, thường được đo lường bằng tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng mà còn có khả năng dẫn đến phá sản và hiệu ứng lan truyền mạnh mẽ trong hệ thống ngân hàng. Thực vậy, ảnh hưởng tiêu cực của nợ xấu đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2008 khiến hàng loạt ngân hàng tuyên bố phá sản, nền kinh tế Mỹ bị khủng hoảng nặng nề. Chính vì thế, làm thế nào để tăng trưởng tín dụng an toàn, hạn chế rủi ro tín dụng là một câu hỏi hóc búa dành cho các nhà quản trị ngân hàng.
Đề tài nghiên cứu: "Nhân tố đặc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 trưng của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam" phân tích rủi ro tín dụng phát sinh từ các yếu tố nội tại của ngân hàng thương mại sẽ phần nào giúp các nhà quản trị có cái nhìn mới về rủi ro tín dụng nhằm đưa ra các biện pháp phòng ngừa và khắc phục hiệu quả đối với loại rủi ro trọng yếu này. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước đưa ra kết luận các nhân tố đặc trưng nào của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam. Về khía cạnh quản lý chi phí, theo các nghiên cứu trước, hiệu quả quản lý của ngân hàng cao làm giảm rủi ro tín dụng và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng làm tăng rủi ro tín dụng (Ahmad và Ariff 2007). Xét trên khía cạnh quy mô ngân hàng và nguồn vốn, các nghiên cứu chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính tác động cùng chiều với rủi ro tín dụng (Fisher, Gueyie và Ortiz 2000), các ngân hàng có nguồn vốn mạnh càng chịu nhiều rủi ro hơn (Cummins và Sommer 1996), quy mô ngân hàng càng nhỏ thì rủi ro tín dụng càng tăng (Allen và Robert 1997).
Xét mối quan hệ giữa tài sản đảm bảo và rủi ro tín dụng, Aghion và Bolton (1992), La Porta và ctg (1998) cho rằng các khoản vay có tài sản đảm bảo là các khoản vay an toàn và có rủi ro thấp. Các cơ sở khoa học đó đã tạo ra ý tưởng cho nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi: Liệu các rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam có chịu tác động của các nhân tố trên hay không và nếu có thì bị tác động như thế nào? 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Năm 2007, cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, hàng loạt Ngân hàng Thương mại (NHTM) được thành lập. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ - nền kinh tế đứng đầu thế giới - đã ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế nói chung và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Hệ thống Ngân hàng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng khi tỷ lệ nợ xấu của hàng loạt NHTM tăng cao. Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã đồng ý nhiều thương vụ xáp nhập của các NHTM và mua lại các NHTM yếu kém. Tính đến ngày 31/12/2016, toàn hệ thống ngân hàng chỉ còn 35 NHTM so với con số hơn 50 ngân hàng năm 2007. Tuy nhiên, động thái của NHNN chỉ là biện pháp tạm thời.
Việc xáp nhập hay mua lại các NHTM yếu kém nhằm tránh khỏi nguy cơ khủng hoảng ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung chỉ là biện pháp lấy mạnh bù yếu chứ không thể giải quyết tận gốc vấn đề nợ xấu – nguyên nhân khủng hoảng của các NHTM. Để giải quyết triệt để vấn đề trên, các nhà điều hành cần tìm hiểu nguyên nhân nợ xấu để đưa ra cách khắc phục cũng như phòng tránh tốt nhất. Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố vĩ mô như tác động của chính sách tiền tệ (Sofoklis và Eftychia 2011), tăng trưởng kinh tế (Ariff và Marisetty 2001, Fischer, Gueyie và Ortiz 2000, Delgado và Saurina 2004), thất nghiệp (Foglia 2008, Blaschke và ctg 2001), lãi suất ngắn hạn danh nghĩa (Hoggarth và ctg 2005),. Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố vĩ mô, rủi ro tín dụng còn xuất phát từ các yếu tố đặc trưng bên trong mỗi ngân hàng như hiệu quả quản lý ngân hàng, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (Ahmad và Ariff 2007), đòn bẩy tài chính (Fisher, Gueyie và Ortiz 2000), vốn pháp định của ngân hàng (Cummins và Sommer 1996),.
Việc tìm hiểu các yếu tố đặc trưng bên trong ngân hàng dẫn đến rủi ro tín dụng giúp cho các nhà quản lý ngân hàng chủ động hơn trong việc đề ra các biện pháp khắc phục và quan trọng hơn là phòng tránh rủi ro. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố từ bên trong ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trở nên cấp thiết. Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích các số liệu từ báo cáo tài chính của các NHTM Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2016 với mục tiêu nhằm tìm ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 các nhân tố đặc trưng của các NHTM Việt Nam ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, đồng thời đánh giá tác động của các nhân tố đó lên rủi ro tín dụng, từ đó, đưa ra các giải pháp phòng tránh rủi ro tín dụng, Để đạt được mục tiêu đó, nghiên cứu lần lượt trả lời ba câu hỏi: Câu hỏi 1: Các nhân tố đặc trưng nào của các NHTM Việt Nam dẫn đến rủi ro tín dụng? Câu hỏi 2: Sự tác động của các nhân tố này ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro tín dụng? Câu hỏi 3: Làm thế nào để các NHTM Việt Nam có thể phòng tránh các rủi ro tín dụng phát sinh? Chương 2 với phần tổng quan lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu trước sẽ cho thấy một vài nhân tố đặc trưng ngân hàng có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng đã được tìm thấy ở các quốc gia khác nhau. Chương 3 và chương 4 sẽ trả lời câu hỏi số 1 và số 2 về các nhân tố đặc trưng của NHTM Việt Nam dẫn đến rủi ro tín dụng và chiều hướng cũng như mức độ tác động của các nhân tố này.
Chương 5 sẽ trình bày một vài giải pháp và kiến nghị đối với NHTM Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước nhằm hạn chế các rủi ro tín dụng phát sinh do các nhân tố đặc trưng của ngân hàng. Các giả thuyết của nghiên cứu Để trả lời được ba câu hỏi nghiên cứu nêu ở mục 1.4, bài viết đặt ra 8 giả thuyết sau và tiến hành kiểm định chúng: H1: Hiệu quả quản lý của ngân hàng tác động âm đến rủi ro tín dụng. Hiệu quả quản lý ngân hàng được đo bằng tỷ lệ sinh lời từ cho vay trên tổng tài sản và tổng chi phí của hoạt động cho vay trên tổng tài sản. Tỷ lệ sinh lời từ cho vay trên tổng tài sản cho thấy khả năng ngân hàng sử dụng tài sản của mình để tạo ra thu nhập.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Khi hiệu quả quản lý càng cao cho thấy ngân hàng quản lý nguồn vốn sinh lợi càng hiệu quả, điều đó đồng nghĩa với việc hạn chế rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, tỷ lệ tổng chi phí của hoạt động cho vay trên tổng tài sản tăng cho thấy sự quản lý kém hiệu quả dẫn đến chi phí tăng cao và đưa đến nhiều nợ xấu hơn. H2: Dự phòng rủi ro tín dụng tác động dương đến rủi ro tín dụng. Khi tỷ lệ giữa tổng chi phí dự phòng và tổng tài sản tăng lên cho thấy ngân hàng đánh giá có thể tăng khả năng rủi ro xảy ra đối với khoản vay.
H3: Tỷ lệ của tổng dư nợ cho vay và tổng tiền gửi tác động dương đến rủi ro tín dụng. H4: Đòn bẩy tài chính tác động dương đến rủi ro tín dụng. Khi các ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính càng lớn có nghĩa khoản vay của ngân hàng càng nhiều, áp lực trả lãi vay càng tăng khiến ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay, từ đó người vay sẽ gặp khó khăn hơn khi trả nợ vay ngân hàng. H5: Vốn pháp định tác động dương đến rủi ro tín dụng.
Ngân hàng dùng vốn của mình để bù đắp tổn thất. Đây là nguồn vốn của chủ ngân hàng, do đó ngân hàng không chịu áp lực trả lãi nên đôi khi tạo tâm lý ỷ lại, sẵn sàng mạo hiểm khi đồng ý cho vay với rủi ro cao. H6: Chi phí cho vay tác động dương đến rủi ro tín dụng. Khi chi phí cho vay tăng lên, ngân hàng phải đối mặt với khoản lỗ từ hoạt động cho vay và nguy cơ gia tăng rủi ro tín dụng.
H7: ROA tác động âm đến rủi ro tín dụng.