Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Hàm ý quản trị 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÍNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cho vay hộ kinh doanh cá thể của ngân hàng thương mại 2. Hộ kinh doanh cá thể 2. Khái niệm Hiện nay, nếu không kể đến những hình thức doanh nghiệp lớn như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân., thì hình thức kinh doanh với quy mô nhỏ như hộ kinh doanh cá thể là một thành phần không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân.
Với quy mô, vừa và nhỏ, hình thức hộ kinh doanh hiện đang rất phổ biến và đem lại thu nhập không nhỏ cho người dân. Theo Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP thì: Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định.
Đặc điểm hộ kinh doanh cá thể Đặc điểm về sở hữu: Hộ kinh doanh mang tính chất của một gia đình, hoạt động dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của bản thân và hộ gia đình mình là chính. Quy mô sản xuất: Quy mô nhỏ lẻ, tản mạn, rời rạc, trình độ chuyên môn quản lý chủ yếu từ kinh nghiệm, điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến hạn chế. 9 Số lượng hộ kinh doanh cá thể phát triển khá nhanh cùng với sự phát triển của nền kinh tế cả nước, hoạt động đa dạng trong mọi ngành nghề sản xuất, giao thông vận tải, thương mại, ăn uống dịch vụ. Ý thức tuân thủ pháp luật còn thấp và luôn tìm mọi cách để tìm ra chỗ sơ hở trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế.
Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. Hoạt động mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, rất nhạy bén trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với nhu cầu của thị trường và nền kinh tế. Có tiềm năng to lớn, phân bổ mọi nơi, mọi lúc, có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết truyền thống được tích lũy qua nhiều thế hệ, qua đó cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu. Vai trò của hộ kinh doanh cá thể Trong điều kiện kinh tế thị trường, hộ kinh doanh cá thể có một vai trò rất quan trọng trong nhiều ngành nghề từ nông thôn đến thành thị.
Hộ kinh doanh cá thể góp phần tạo nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, đồng thời đóng vai trò làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh tế trong quá trình phân phối luân chuyển hàng hóa, dịch vụ. Nguồn vốn trong nhân dân rất dồi dào nhưng chưa được đầu tư để tái sản xuất, do vậy nếu có các chính sách hợp lý thì thông qua họ có thể huy động được nguồn vốn lớn đầu tư vào sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích lũy, mở rộng tái sản xuất. Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng thì chính việc thu hút một số lượng lao động đáng kể của hộ kinh doanh cá thể đã góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp cho xã hội. Hộ kinh doanh cá thể góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn giúp ổn định nền kinh tế do tận dụng được nguồn lao động 10 dồi dào.
Sự phát triển của hộ kinh doanh góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và tạo nguồn thu ổn định ngày càng tăng cho Ngân sách Nhà nước. Khái niệm đặc điểm cho vay hộ kinh doanh cá thể 2. Khái niệm cho vay hộ kinh doanh cá thể Theo khoản 1 Điều 2 của thông tư số 39/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức, tín dụng chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, khái niệm cho vay được định nghĩa như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Như vậy, cho vay HKD của NHTM là hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao hoặc cam kết giao cho HKD một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Khoảng thời gian nhất định được hiểu là thời hạn cho vay. Ngân hàng và HKD căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn, khả năng trả nợ của HKD, nguồn vốn vay của NHTM để thỏa thuận thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi HKD bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa NHTM và HKD. Đặc điểm cho vay hộ kinh doanh cá thể Về mục đích vay vốn: mục đích vay vốn của HKD khác với cho vay tiêu dùng nhưng khá giống cho vay DN.
Số lượng khách hàng đông, trải rộng về địa bàn hoạt động, số lượng khoản vay nhiều nhưng quy mô từng khoản vay nhỏ. Thông tin HKD thường không đầy đủ và khó đánh giá mức độ tin cậy của nguồn thông tin. Khó khai thác lợi thế quy mô để tiết kiệm chi phí so với cho vay DN. Rủi ro tín dụng trong cho vay HKD thường cao vì khó khăn trong hoạt động kiểm tra giám sát sau khi cho vay.
Lãi suất cho vay thường cao hơn so với cho vay doanh nghiệp. Phân loại cho vay hộ kinh doanh cá thể 2. Căn cứ thời hạn tín dụng Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. Được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Đặc điểm của loại hình tín dụng này là mức độ rủi ro thấp hơn so với cho vay trung dài hạn vì thời hạn hoàn vốn nhanh nên giảm được các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô. Do đó, cho vay ngắn hạn thường có lãi suất thấp hơn so với cho vay trung và dài hạn. Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60 tháng. Được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Trong cho vay HKD thì NHTM chủ yếu cho vay để tài trợ cho việc đầu tư vào máy móc thiết bị, đầu tư trang thiết bị ban đầu để đưa vào sản xuất. Đây là nhu cầu vay vốn mà khi NHTM cho vay sẽ mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng, bởi vì hoạt động sản xuất kinh doanh của HKD thường nhỏ lẻ, vòng quay vốn ngắn, dòng tiền của HKD thường ra vào liên tục, không ổn định trong kinh doanh nên khi cho vay vốn trung hạn thì NHTM cần phải xác định chính xác dòng tiền để xác định lịch trả nợ phù hợp cho khách hàng. Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng. Được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà xưởng, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn.
Trong cho vay HKD thì cho vay dài hạn ít phát sinh vì trình độ và khả năng quản lý trong sản xuất kinh doanh với quy mô nhỏ và vừa nên việc đầu tư tài sản với quy mô lớn, thời gian đầu tư dài sẽ vượt ngoài tầm khả năng của HKD. Căn cứ vào hình thức đảm bảo Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố của HKD đi vay. Ngân hàng cấp tín dụng chủ yếu dựa trên cơ sở 12 uy tín, nguồn trả nợ dự phòng dựa vào bản thân năng lực và triển vọng tài chính của HKD nên cho vay không có bảo đảm còn được gọi là cho vay tín chấp. Cho vay tín chấp thường được áp dụng đối với khách hàng truyển thống, duy trì quan hệ lâu dài và uy tín với ngân hàng, thực hiện việc trả nợ đầy đủ và đúng hạn, có tình hình tài chính lành mạnh và phương án sản xuất kinh doanh khả thi.
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay đòi hỏi HKD phải có tài sản thế chấp, cầm cố của HKD đi vay hoặc của bên thứ ba. Căn cứ vào phương thức cho vay Theo thông tư số 39/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức, tín dụng chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, ngân hàng tiến hành cho vay các hộ kinh doanh cá thể theo các phương thức sau: Cho vay từng lần: mỗi lần vay, khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Phương thức này thích hợp với những HKD có nhu cầu vốn không thường xuyên hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh có tính chất mùa vụ. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.