Tổng quan nghiên cứu

Thị trường khởi nghiệp tại Việt Nam ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc khi số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp tăng nhanh từ 400 đơn vị năm 2012 lên 4.000 doanh nghiệp vào năm 2019, thu hút dòng vốn đầu tư mạo hiểm đạt khoảng 150 triệu USD năm 2018 và hướng tới mốc dự báo 440 triệu USD vào năm 2021. Song hành với làn sóng khởi nghiệp, lĩnh vực năng lượng sạch chứng kiến sự bùng nổ của nguồn năng lượng tái tạo với 272 dự án điện mặt trời được đăng ký đạt tổng công suất khoảng 17.500 MW, chiếm 9% tổng công suất nguồn điện toàn quốc nhưng sản lượng khai thác thực tế mới chỉ dừng ở mức khoảng 2% tổng sản lượng điện. Mặc dù tiềm năng phát triển rất lớn, số lượng dự án khởi sự kinh doanh của giới trẻ trong phân khúc năng lượng mặt trời vẫn còn vô cùng khiêm tốn. Khoảng trống lớn giữa nền tảng lý thuyết chung về khởi nghiệp và thực tiễn vận hành doanh nghiệp trong ngành kỹ thuật năng lượng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phân tích sâu sắc tâm lý và xu hướng của lực lượng lao động trẻ. Đề tài tập trung xác định các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của sinh viên. Nghiên cứu được thực hiện tại 18 trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ tháng 2/2020 đến tháng 4/2020. Dữ liệu thực nghiệm thu thập từ 208 mẫu khảo sát hợp lệ mang lại ý nghĩa học thuật và thực tiễn quan trọng, cung cấp hệ thống luận cứ vững chắc để thúc đẩy định hướng nghề nghiệp, hỗ trợ chuyển giao công nghệ và gia tăng số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp xanh tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) của Icek Ajzen (1991) làm nền tảng nòng cốt, kết hợp cùng Lý thuyết quá trình khởi nghiệp của Hisrich và Peters (2002) và mô hình bối cảnh khởi sự của Nurul Indarti (2004). Khung nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm trọng tâm bao gồm: Khởi nghiệp (quá trình tạo ra giá trị mới thông qua nỗ lực, thời gian và chấp nhận rủi ro để nhận lại lợi ích kinh tế lẫn sự độc lập cá nhân), Dự định khởi nghiệp (tiền đề nhận thức trực tiếp dẫn dắt hành vi khởi sự doanh nghiệp), Năng lượng mặt trời (nguồn bức xạ vô tận với mật độ trung bình khoảng 3.000 kcal/m2/ngày tại Việt Nam theo định hướng của Quyết định số 428/QĐ-TTg), Nhận thức kiểm soát hành vi và Khả năng tiếp cận thông tin. Mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu xem xét tác động đồng thời của 5 nhóm nhân tố tiền đề: Giáo dục khởi nghiệp, Khả năng tài chính, Nhận thức kiểm soát hành vi, Đam mê kinh doanh và Tiếp cận thông tin đối với dự định dấn thân vào ngành năng lượng mặt trời của sinh viên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo ngành giai đoạn 1996 - 2019 và dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát bảng hỏi trực tuyến trong khung thời gian từ tháng 2/2020 đến tháng 4/2020. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất được triển khai tại 18 trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội đối với sinh viên thuộc khối ngành kinh tế và kỹ thuật. Cỡ mẫu tối thiểu được xác định dựa trên tiêu chuẩn của Hair (yêu cầu kích thước mẫu gấp 5 lần số biến quan sát, tương đương tối thiểu 140 quan sát cho 28 biến) và công thức Aprimer (quy mô mẫu tối thiểu bằng 104 cộng số biến độc lập, tương ứng tối thiểu 127 quan sát cho 23 biến). Thực tế nghiên cứu đã phát ra 250 phiếu, thu về 230 phiếu và chọn lọc được 208 phiếu hợp lệ, vượt mức chuẩn tối thiểu để đảm bảo tính đại diện. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 22 qua các bước: kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA (sử dụng phép trích Principal Component Analysis với phép xoay Varimax) và phân tích hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logistic Regression). Phương pháp hồi quy Logistic được lựa chọn vì biến phụ thuộc là biến định danh đo lường trạng thái có hoặc không có dự định khởi nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ hình thành ý định khởi sự kinh doanh trong ngành năng lượng tái tạo của sinh viên còn khá thấp khi chỉ có 29,3% sinh viên (tương đương 61 người) có dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời, trong khi có tới 70,7% (147 người) trả lời chưa có dự định.

Thứ hai, cơ cấu mẫu khảo sát phản ánh sự chênh lệch rõ nét về nhân khẩu học: nam giới chiếm ưu thế với 71,2% (148 sinh viên) so với 28,8% nữ giới (60 sinh viên); sinh viên năm thứ 3 chiếm tỷ lệ lớn nhất đạt 52% (108 người), sinh viên năm 2 và năm 4 chiếm 24%, còn lại sinh viên năm 1 và năm 5 chiếm khoảng 5%. Về kinh nghiệm thực tế, 47,1% sinh viên đang đi làm thêm và 42,8% đã từng đi làm thêm, tạo tiền đề quan trọng cho nhận thức thực tiễn.

Thứ ba, kết quả phân tích EFA sau 3 lần xoay với 23 biến quan sát đạt hệ số KMO = 0,611, kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa Sig = 0,000 và tổng phương sai trích đạt 69,516%. Thang đo đã tái cấu trúc thành 7 nhóm nhân tố độc lập: Đam mê kinh doanh, Nhân tố ngoại cảnh, Tiếp cận thông tin, Nhận thức hành vi, Khả năng tài chính, Giáo dục khởi nghiệp và Kiểm soát hành vi, với hệ số tin cậy Cronbach's Alpha dao động từ 0,589 đến 0,749.

Các phát hiện này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện phân bổ sinh viên theo các năm học, biểu đồ tròn phân chia tỷ lệ dự định khởi nghiệp (29,3% so với 70,7%) và bảng ma trận xoay EFA hiển thị các trọng số tải nhân tố đều vượt ngưỡng 0,50.

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích chỉ ra rằng mặc dù có 44,2% sinh viên hiểu biết cơ bản và 15% hiểu biết hoàn toàn về năng lượng mặt trời, tỷ lệ chuyển hóa thành hành động lập nghiệp chỉ đạt 29,3%. Sự chênh lệch này bắt nguồn từ tính chất đặc thù của ngành công nghệ năng lượng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, kỹ thuật chuyển đổi quang điện phức tạp và diện tích lắp đặt quy mô rộng. So sánh với nghiên cứu của Nurul Indarti (2004), vai trò của khả năng tiếp cận thông tin và mạng lưới xã hội tiếp tục được khẳng định là động lực then chốt giúp người trẻ giảm thiểu rủi ro khi gia nhập thị trường. Kết quả cũng tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) khi nhấn mạnh đam mê kinh doanh là nhân tố nội tại quan trọng nhất. Tuy nhiên, sự xuất hiện tách biệt của biến ngoại cảnh và giáo dục khởi nghiệp trong mô hình nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy các khóa đào tạo đại học hiện nay còn nặng về lý thuyết học thuật, thiếu vắng các học phần trang bị kỹ năng thương mại hóa công nghệ xanh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm gia tăng số lượng và chất lượng các dự án khởi nghiệp trong ngành năng lượng tái tạo, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Đổi mới chương trình giáo dục khởi nghiệp liên ngành: Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng ban giám hiệu các trường đại học cần thiết kế học phần tích hợp giữa quản trị kinh doanh và kỹ thuật năng lượng sạch, đặt mục tiêu 100% sinh viên chuyên ngành kỹ thuật và kinh tế được đào tạo kỹ năng xây dựng dự án khởi nghiệp xanh trong giai đoạn 2021 - 2023.

  2. Xây dựng vườn ươm doanh nghiệp và quỹ hạt giống công nghệ: Các trường đại học chủ động liên kết với doanh nghiệp năng lượng để thành lập trung tâm ươm tạo khởi nghiệp mặt trời, cung cấp các gói tài trợ hạt giống từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng cho mỗi dự án khả thi, hướng tới hỗ trợ 100 dự án thử nghiệm trước năm 2025.

  3. Hoàn thiện chính sách ưu đãi tài chính và không gian thử nghiệm: Chính phủ và Bộ Công thương cần ban hành cơ chế vay vốn ưu đãi với lãi suất thấp, miễn giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu cho các dự án khởi nghiệp xanh của thanh niên trong lộ trình 2021 - 2025.

  4. Mở rộng cổng thông tin dữ liệu mở về năng lượng tái tạo: Các hiệp hội năng lượng phối hợp với cơ quan truyền thông xây dựng nền tảng số hóa dữ liệu thị trường và chính sách điện mặt trời, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên có dự định khởi nghiệp ngành năng lượng từ mức 29,3% hiện nay lên 45% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Sinh viên và thanh niên có định hướng khởi nghiệp: Tài liệu cung cấp góc nhìn thực chứng về các rào cản tài chính, năng lực kỹ thuật và quy trình tiếp cận thị trường năng lượng mặt trời, giúp người trẻ tối ưu hóa kế hoạch kinh doanh và xây dựng chiến lược gọi vốn thực tế.

  2. Ban giám hiệu và giảng viên các cơ sở giáo dục đại học: Căn cứ vào mô hình 7 nhóm nhân tố để đổi mới chương trình giảng dạy, thiết kế các cuộc thi ý tưởng sáng tạo và tạo lập môi trường học tập gắn kết với nhu cầu phát triển năng lượng bền vững.

  3. Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Nguồn số liệu thực nghiệm từ 208 phiếu khảo sát tại Hà Nội là cơ sở hữu ích để ban hành các quy định hỗ trợ pháp lý, phát triển không gian vườn ươm công nghệ và phân bổ ngân sách hỗ trợ thanh niên lập nghiệp.

  4. Các quỹ đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp năng lượng: Nghiên cứu hỗ trợ đánh giá mức độ sẵn sàng của nguồn nhân lực trẻ, từ đó phát hiện các ý tưởng sáng tạo tiềm năng để thực hiện chuyển giao công nghệ và đầu tư vốn giai đoạn đầu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ lệ sinh viên đại học có dự định khởi nghiệp trong lĩnh vực năng lượng mặt trời là bao nhiêu? Theo khảo sát thực tế trên 208 sinh viên tại Hà Nội, có 29,3% sinh viên bày tỏ dự định khởi nghiệp trong ngành năng lượng mặt trời, trong khi 70,7% chưa có ý định. Tỷ lệ này cho thấy ngành năng lượng xanh vẫn còn nhiều dư địa khai thác nhưng chưa thu hút mạnh mẽ sinh viên do rào cản kỹ thuật và nguồn vốn ban đầu.

  2. Những nhân tố nào có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến dự định khởi nghiệp của sinh viên? Phân tích EFA xác định 7 nhóm nhân tố giải thích 69,516% tổng phương sai trích, trong đó Đam mê kinh doanh, Tiếp cận thông tin và Nhận thức hành vi giữ vai trò quyết định. Sự am hiểu về biến đổi khí hậu và chính sách phát triển điện mặt trời là chất xúc tác trực tiếp gia tăng quyết tâm dấn thân của sinh viên.

  3. Vì sao khả năng tài chính lại là rào cản lớn đối với sinh viên muốn khởi nghiệp năng lượng sạch? Sản xuất và kinh doanh điện mặt trời đòi hỏi vốn đầu tư lớn cho thiết bị tấm pin quang điện nhập khẩu và mặt bằng lắp đặt (trung bình 1 MW cần khoảng 1 ha diện tích đất). Phần lớn sinh viên chưa có tích lũy tài chính tự thân và gặp khó khăn trong việc tiếp cận các khoản vay ngân hàng nếu thiếu tài sản bảo đảm.

  4. Yếu tố giới tính và năm học ảnh hưởng thế nào đến xu hướng khởi sự kinh doanh? Số liệu thực nghiệm chỉ ra 71,2% người tham gia khảo sát là nam giới và 52% là sinh viên năm thứ 3. Sinh viên các năm cuối có mức độ trưởng thành cao hơn về định hướng nghề nghiệp, đồng thời sinh viên nam thuộc khối ngành kỹ thuật thường thể hiện mức độ tự tin cao hơn trước các mô hình kinh doanh công nghệ.

  5. Nhà trường cần làm gì để chuyển hóa hiểu biết của sinh viên thành hành vi khởi nghiệp thực tế? Với thang đo tiếp cận thông tin đạt độ tin cậy Cronbach's Alpha là 0,749, nhà trường cần chuyển đổi phương pháp giảng dạy sang mô hình thực hành dự án. Việc tổ chức các diễn đàn kết nối doanh nghiệp và thiết lập vườn ươm công nghệ là giải pháp hiệu quả nhất để hiện thực hóa các ý tưởng nghiên cứu của sinh viên.

Kết luận

  • Đề tài đã xây dựng và kiểm định thành công mô hình 7 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp năng lượng mặt trời của sinh viên với tổng phương sai trích đạt 69,516%.
  • Dữ liệu thực nghiệm từ 208 sinh viên thuộc 18 trường đại học trên địa bàn Hà Nội phản ánh tỷ lệ có dự định khởi nghiệp đạt 29,3%, cho thấy tiềm năng to lớn cần được khai phóng.
  • Nghiên cứu chứng minh sự kết hợp giữa đam mê cá nhân, năng lực tiếp cận thông tin và các chính sách hỗ trợ tài chính ngoại cảnh là động lực cốt lõi thúc đẩy hành vi khởi nghiệp.
  • Hệ thống 4 nhóm khuyến nghị liên ngành mở ra lộ trình cụ thể cho giai đoạn 2021 - 2025 nhằm nâng tỷ lệ dự định khởi nghiệp xanh của sinh viên lên mức mục tiêu 45%.
  • Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phạm vi khảo sát trên quy mô toàn quốc và phân tích chuỗi thời gian để theo dõi sát sao quá trình chuyển đổi từ dự định sang hành động thành lập doanh nghiệp. Hãy chủ động nắm bắt cơ hội và tham gia vào hệ sinh thái năng lượng tái tạo ngay hôm nay để kiến tạo các giá trị kinh tế bền vững cho tương lai!