CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Xuất phát từ khoảng trống lý thuyết Theo Hisrich & Peters (2002), thuật ngữ “Khởi nghiệp” là “một quá trình tạo nên một thứ mới, có giá trị bằng việc cống hiến thời gian và các nỗ lực cần thiết, gánh chịu các rủi ro đi kèm về tài chính, tinh thần, xã hội và kết quả là nhận những phần thưởng về tiền bạc, sự thỏa nguyện cá nhân và độc lập”. Bên cạnh đó, dự định là tiền đề của hành động và hành vi (Ajzen, 1991). Một yếu tố quan trọng là việc xác định điều gì thúc đẩy dự định khởi nghiệp (DDKN).
“Dự định được cho là yếu tố thúc đẩy ảnh hưởng đến hành vi” (Ajzen, 1991). Vì vậy, “xây dựng DDKN là trọng tâm của phần lớn công việc, bắt đầu từ việc điều tra các đặc điểm tính cách cụ thể và các đặc điểm nhân khẩu học đến việc tiếp cận thái độ và hành vi của từng cá nhân” (Liñán, Rodríguez-Cohard và Rueda-Cantuche, 2011). “Trên thế giới, việc khích lệ khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các nền kinh tế và xã hội hiện đại” (Holmgren và From, 2005; Ozaralli và Rivenburgh, 2016). “Khởi nghiệp thúc đẩy các thế hệ lao động, thúc đẩy sự đổi mới về công nghệ và đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, của cải của mỗi quốc gia bằng cách tại ra những cơ hội thị trường mới” (Holmgren và From, 2005).
“Do đó, trong những năm gần đây, nhiều Chính phủ tại các quốc gia đã và đang phát triển đã chú trọng các chính sách thúc đẩy khởi nghiệp trong dân số nói chung, và thanh niên nói riêng” (Dioneo - Adetayo, 2006; Holmgren và From, 2005; Koe, Sa’ari, Majid và Ismail, 2012; Ozaralli và Rivenburgh, 2016; Sharma và Madan, 2014). “Hiện nay trên thế giới có vô số những bài nghiên cứu về nhân tố tác động đến DDKN của sinh viên, tuy nhiên các nghiên cứu về DDKN thường được thực hiện ở các sinh viên nhóm ngành kinh tế và quản trị kinh doanh” (David và cộng sự 2007), rất thiếu những nghiên cứu ở sinh viên trong ngành năng lượng. Thêm vào đó, các nghiên cứu cùng đề tài trước đây chủ yếu tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới DDKN nói chung, thiếu các nghiên cứu kết hợp phân tích giữa các nhân tố đó với DDKN trong một lĩnh vực cụ thể. Các nghiên cứu về ngành năng lượng mặt trời tuy ghi nhận số lượng không nhỏ nhưng lại không tiếp cận đến góc nhìn khởi nghiệp, kinh doanh.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Xét về thực trạng khởi nghiệp tại Việt Nam, theo bản báo cáo của “KrAsia, Bain&Co” năm 2018, “Việt Nam đã thu hút một con số khoảng 150 triệu USD đầu tư trong năm 2018, gấp đôi số liệu được thu thập năm 2017. Các doanh nghiệp khởi nghiệp 10 giai đoạn đầu ở Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục thu hút nhiều khoản đầu tư lớn với ước tính của các khoảng 2020 và 2021 lần lượt là 320 triệu USD và 440 triệu USD. Như vậy có thể thấy, những con số đã chứng minh trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam các năm vừa qua đã chạm tới một kết quả hết sức ấn tượng về cả số lượng và chất lượng. Cụ thể trong năm 2012, Việt Nam chỉ có khoảng 400 doanh nghiệp khởi nghiệp, tuy nhiên con số này lên đến 1,800 vào năm 2015, tăng gấp 4 lần; con số này tiếp tục tăng trưởng trong 2018 và 2019 với con số ấn tượng là 4,000 start-up”.
Hiện nay, Việt Nam đang được các chuyên gia xếp hạng cao so với các quốc gia đang phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo. Từ những sự hiểu biết ít về khái niệm khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam những năm 2012-2013 đến sự vươn lên đứng thứ ba trong các nước Asean, sau Singapore, Việt Nam đang dần vươn lên vững mạnh hơn trong tốc độ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp và phong phú hệ sinh thái khởi nghiệp. Hiễu rõ những “lợi thế môi trường”, xã hội ở Việt Nam cũng như những “lợi ích về kinh tế” to lớn mà các doanh nghiệp khởi nghiệp đã và đang đem lại, chính phủ ta đang tích cực tạo thêm nhiều nhiều điều kiện ủng hộ cho các doanh nghiệp Việt Nam qua nhiều hình thức như các chương trình khởi nghiệp, chính sách, dự án hỗ trợ nghiên cứu đổi mới sáng tạo từ các địa phương nhỏ lẻ cho đến tỉnh thành lớn: “Dự án IPP hợp tác với Chính phủ Phần Lan, Chương trình FIRST do Ngân hàng thế giới tài trợ, Chương trình BIPP hợp tác với Bỉ và đặc biệt là Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia đến năm 2025”. Ngoài ra, chính phủ ta cũng hình thành những cơ quan liên quan đến khởi nghiệp như: “Qũy Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp quốc gia”, “Trung tâm Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp”, … góp phần đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua việc hỗ trợ cầu nối vốn, quỹ đầu tư từ các nhà đầu tư đến với từng doanh nghiệp khởi nghiệp cũng như tăng cường đào tạo, tập huấn và trợ giúp pháp lý cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đang còn ở quy mô nhỏ.
Hiện nay, có nhiều lỗ hổng vẫn còn tồn đọng: 1. Thiếu các chính sách ưu tiên cho khởi nghiệp: Hiện nay Việt Nam đang còn thiếu những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp. Cụ thể các doanh nghiệp FDI chưa được lan tỏa vào kinh tế khởi nghiệp trong các địa phương. Người ta nhận định rằng ở các tỉnh thành, doanh nghiệp khởi nghiệp chưa thật sự được ưu tiên về các chính sách cũng như các hỗ trợ phát triển.
Thêm vào đó, các doanh nghiệp khởi nghiệp ở nước ngoài có phần được ưu tiên hơn. Hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam còn mang nhiều hạn chế: Tuy thực trạng khởi nghiệp Việt Nam trong những năm 2017-2019 đã đạt được một con số ấn tượng thể hiện sự tăng lên của người tham gia vào hệ sinh thái khởi nghiệp, nhưng vẫn còn nhiều chỉ số chỉ ra rằng Việt Nam vẫn còn kém xa các nước cùng trình độ kinh tế và các nước trong khu cực Đông Nam Á. Một số hạn chế như: người khởi nghiệp lo sợ những thất bại có thể xảy ra, không tự tin vào khả năng kinh doanh, 11 lĩnh vực kinh doanh và ít thông tin tìm hiểu về những sự đổi mới sáng tạo trong kinh doanh,… Thêm vào đó, các vấn đề hạn chế liên quan đến chính phủ như các chương trình hỗ trợ của chính phủ, chính sách của chính phủ hay các sự chuyển giao công nghệ vẫn không được cải thiện phần nào so với các năm trước. Chính phủ thực hiện các công việc chậm chạp, nhiều thủ tục và kém hiệu quả chính là lời nhận xét chung của các doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng và các doanh nghiệp lớn nói chung.
Hạn chế về vốn đầu tư: Hiện nay trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam các dự án khởi nghiệp được bắt đầu với một nguồn vốn hạn hẹp của một cá nhân hoặc các thành viên gia đình, và khả năng vay vốn ngân hàng cũng như kêu gọi các nhà đầu tư đnag còn rất hạn chế và khó khăn. Hạn chế về cơ sở vật chất để nghiên cứu phát triển: các dự án khởi nghiệp thường không đủ hoặc thiếu điều kiện để trang trải và đầu tư vào phòng thí nghiệm hay cho các loại máy móc và thiết bị để phục vụ nghiên cứu thị trường. Việc này dẫn tới sản phẩm của các doanh nghiệp còn hạn hẹp, không được phát triển phù hợp với nhịp sống của người tiêu dùng. Đi sâu hơn vào phân tích thực trạng khởi nghiệp lĩnh vực Năng lượng mặt trời (NLMT) tại Việt Nam, nhóm tác giả nhận thấy có rất nhiều điểm sáng.
Nhu cầu sử dụng điện cũng như “tỷ trọng năng lượng hóa thạch” dùng trong sản xuất điện ở Việt Nam khá lớn. Điều này dẫn tới nguy cơ thiếu hụt “nguồn năng lượng hóa thạch” trong tương lai ở một nước đang đà phát triển mạnh như Việt Nam, đồng thời cũng gây ra tác động xấu tới môi trường do sự ô nhiễm mà loại năng lượng này mang đến. Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2019, “Việt Nam có 33.548 người sống tại các thành thị, chiếm 34,4% tổng dân số cả nước, trong giai đoạn 2009 – 2019 tỷ lệ tăng dân số bình quân năm khu vực thành thị là 2,64%/năm, gấp nhiều hơn hai lần so với tỷ lệ tăng ở khu vực nông thôn”. Như vậy xu thế “đô thị hóa” cũng đang phát triển rất mạnh kéo theo rất nhiều nguy cơ về năng lượng và môi trường liên quan.
Vấn đề đặt ra cho các đô thị phát triển là với “xu thế toàn cầu hóa” và “đô thị hóa” ngày càng tăng, làm thế nào để cân bằng giữa phát triển với khan hiếm tài nguyên và các vấn đề ô nhiễm môi trường? Cùng với sự phát triển của “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4”, hệ thống năng lượng mặt trời đang dần phổ biến trong vài năm trở lại đây. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng khá lớn về năng lượng tái tạo và đã có nhiều dự án phát triển NLMT được triển khai thực hiện bước đầu đem lại kết quả nhất định. Chỉ trong nửa đầu năm 2018, “Bộ Công thương ghi nhận 272 dự án nhà máy điện mặt trời với tổng công suất khoảng 17.500 MW, gấp 9 nhà máy thủy điện Hòa Bình và 12 gấp 7 lần nhà máy thủy điện Sơn La”. Ghi nhận vào đầu năm 2019, “số lượng dự án điện mặt trời với quy mô công suất 4.500 MW đưa vào vận hành đạt đến con số 90.
Các nhà máy điện mặt trời có tổng công suất chiếm 9% tổng công suất điện của nhà nước, tuy nhiên sản lượng điện khai thác được mới chiếm khoảng 2% tổng sản lượng điện sản xuất” (Theo “Cổng thông tin điện tử Điện năng lượng mặt trời”). Không chỉ gây được sự chú ý của các nhà thầu trong nước, Việt Nam thu hút rất nhiều dự án lớn đến từ các nhà đầu tư nước ngoài như: nhà máy “Tata Power công suất 300 MW” tại Hà Tĩnh, nhà máy “Hanwha công suất 100-200 MW” tại Thừa Thiên Huế, nhà máy “GT & Associates và Mashall & Street Ltd công suất 150 MW” tại Quảng Nam. Dù sự phát triển của Năng lượng mặt trời đang là điểm nóng tại Việt Nam nhưng sản lượng khai thác và sử dụng hiện tại mới chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với tiềm lực thực tế. Thực tế thì số các dự án khởi nghiệp có quy mô lớn ở nước ta rất ít, phần trăm “công suất lắp đặt” các nhà máy NLMT đưa vào hệ thống lưới quốc gia cũng chưa đạt con số nổi bật.