chương 1 Ở chương này, tác giả đã nêu lên sự cần thiết nghiên cứu của đề tài, mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu nhằm làm nền tảng cho các nội dung nghiên cứu được xác định ở các chương sau. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Khái niệm về thẻ tín dụng Hiện nay, Theo thông tư 19/2016/TT-NHNN của Thống đốc NHNN thì thẻ tín dụng được đề cập đến là một trong những hình thức của thẻ thanh toán và đã được mô tả như sau: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”. Tùy theo mục đích của từng nghiên cứu và cách tiếp cận của mỗi tác giả mà họ đưa ra những định nghĩa khác nhau về thẻ tín dụng. Tuy nhiên, nội dung khái niệm này về cơ bản vẫn thể hiện được bản chất của thẻ tín dụng.
Trong nghiên cứu này, căn cứ vào những thuộc tính cơ bản của thẻ tín dụng và tham khảo về khái niệm thẻ tín dụng mà các tác giả trước đã nêu ra, đề tài đưa ra khái niệm về thẻ tín dụng như sau: “Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, được phát hành bởi một tổ chức (là ngân hàng hoặc TCTD), cung cấp cho khách hàng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau thông qua việc cấp một hạn mức tín dụng. Các tổ chức phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng. Do đó, mỗi khách hàng có những hạn mức tín dụng khác nhau. Theo đó, tổ chức phát hành sẽ ứng tiền trước cho người bán và chủ thẻ sẽ thanh toán lại sau cho tổ chức phát hành.
Thẻ tín dụng cho phép khách hàng trả dần số tiền thanh toán trong tài khoản, bằng cách thanh toán một số dư tối thiểu trước ngày đáo hạn ghi rõ trên bảng sao kê giao dịch hàng tháng mà không phải thanh toán toàn bộ số dư. Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn sẽ được miễn lãi hoàn toàn. Ngược lại, nếu khách hàng không thanh toán hết số dư sẽ phải chịu trả lãi tính cho số dư nợ cuối kỳ. Khi toàn bộ số tiền phát sinh được hoàn trả cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục như ban đầu.
Đây là tính chất “tuần hoàn” của thẻ tín dụng”.2 Lý thuyết hành vi tiêu dùng 2.1 Các khái niệm Người tiêu dùng: người tiêu dùng, hay khách hàng là một khái niệm tương đối quen thuộc, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về định nghĩa cũng như nội hàm của khái niệm này. Ở đây, nghiên cứu xin trích dẫn định nghĩa trong pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng của Ủy ban thường vụ quốc gia: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” Hành vi mua người tiêu dùng: là hành động của người tiêu dùng liên quan đến việc mua sắm và tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ như: tìm kiếm, lựa chọn, mua sắm, tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu.2 Mô hình hành vi mua của người tiêu dùng Điểm xuất phát để hiểu được người mua là mô hình tác nhân phản ứng được thể hiện trong mô hình Marketing và những tác nhân của môi trường đi vào ý thức của người mua. Những đặc điểm và quá trình quyết định của người mua dẫn đến những quyết định mua sắm nhất định. Nhiệm vụ của người làm marketing là hiểu được điều gì xảy ra trong ý thức của người mua giữa lúc các tác nhân bên ngoài bắt đầu tác động và lúc quyết định mua.
Sản phẩm Giá cả Các đặc tính của Các phản ứng đáp lại Phân phối người mua của người tiêu dùng Xúc tiến Lựa chọn sản phẩm Các yếu tố môi Lựa chọn nhãn hiệu trường (chính Quá trình quyết trị, kinh tế, văn định mua của Lựa chọn nhà kinh hóa, công người tiêu dùng doanh nghệ, dân số) Lựa chọn số lượng sản phẩm mua Hình 2. Mô hình hành vi mua của người tiêu dùng Nguồn: Philip Kotler, 1998 7 Tác nhân kích thích: là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài người tiêu dùng có thể gây ảnh hưởng tới hành vi mua của người tiêu dùng. Cụ thể: Các yếu tố kích thích của Marketing: đây là những hoạt động marketing của doanh nghiệp tác động vào người tiêu dùng một cách có chủ đích thông qua các chương trình, chiến dịch marketing 4Ps và doanh nghiệp có khả năng kiểm soát được. Các tác nhân kích thích khác: là những tác nhân thuộc môi trường bên ngoài, bao gồm các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô mà doanh nghiệp không điều khiển, kiểm soát được.
Các nhân tố này có thể gây ra rủi ro hay thuận lợi cho doanh nghiệp, việc doanh nghiệp cần làm đó là dự báo và đưa ra các kế hoạch để giảm thiểu rủi ro và khai thác tối đa thuận lợi. Đặc tính và quá trình ra quyết định mua sắm: Đặc tính của người tiêu dùng: các tác nhân kích thích tác động vào khách hàng và khách hàng tiếp nhận những kích thích đó. Với những đặc tính của mình (tính cách, tuổi tác, giới tính, thu nhập,…) khách hàng xử lý thông tin tiếp nhận được theo cách của riêng họ và đưa ra quyết định mua hoặc không mua hàng. Quá trình quyết định mua sắm: là quá trình khách hàng tiếp nhận những kích thích từ các nhân tố marketing và môi trường vĩ mô.
Với những đặc tính của cá nhân, khách hàng sẽ xử lý thông tin, kích thích đó theo cách của họ. Từ đó xuất hiện nhu cầu – mong muốn và tìm kiếm thông tin để đưa ra quyết định mua sắm hoặc không. Phản ứng đáp lại của người tiêu dùng: là những phản ứng người tiêu dùng bộc lộ trong quá trình trao đổi mà ta có thể quan sát được. Nói cách khác, là tập hợp các cảm xúc, thái độ và hành động của người tiêu dùng khi tiếp cận với các kích thích.3 Quy trình đi đến một quyết định mua hàng Nhận Tìm Đánh Quyết Hành xử biết kiếm giá các định sau mua nhu thông tin phương mua cầu án khác nhau Hình 2.
Quy trình đi đến một quyết định mua hàng Nhận biết nhu cầu Đây là bước đầu tiên trong quá trình đi đến một quyết định mua sắm. Nhu cầu có thể được nhận biết bằng hai cách: + Một là do những nguyên nhân tâm sinh lý bên trong con người quy định. Nhu cầu sẽ xuất hiện nếu khách hàng nhận biết có sự khác biệt hoặc chênh lệch giữa tình trạng hiện tại và tình trạng lý tưởng.Nếu nhu cầu phát triển đủ mạnh sẽ trở thành thôi thúc. + Hai là nhu cầu được hình thành do tác động bởi các kích tố ngoại cảnh như tác động của quảng cáo hay những yếu tố khác.
Tìm kiếm thông tin Nếu nhu cầu của con người chưa đủ mạnh thì chưa thúc đẩy con người tìm kiếm thông tin và ngược lại nếu có cường độ đủ mạnh sẽ trở thành một thôi thúc thúc đẩy người ta tìm kiếm thông tin. Thông tin có thể đến từ các nguồn sau: + Nguồn trực tiếp thông qua các quan hệ giữa khách hàng và người khác: là những thông tin từ bạn bè, gia đình, đồng nghiệp, láng giềng. + Nguồn thông tin thương mại: là nguồn thông tin từ quảng cáo, từ nhân viên bán hàng, nhà buôn, các cơ sở bao bì… + Nguồn từ các cơ quan truyền thông + Nguồn từ thực nghiệm: là thông tin có được do khách hàng thực nghiệm như: sờ mó, đụng chạm, dùng thử sản phẩm… 9 Vai trò các nguồn thông tin khác nhau là: Nhờ tìm kiếm thông tin mà khách hàng biết được đầy đủ sản phẩm, dịch vụ đang tồn tại trên thị trường bên cạnh những sản phẩm mà khách hàng đã biết và đưa vào danh sách bộ nhãn hiệu lựa chọn. Đánh giá các phương án có thể thay thế lẫn nhau Khi đã có trong tay nhiều nhãn hiệu cho cùng một sản phẩm, người tiêu dùng sẽ đánh giá các phương án có khả năng thay thế nhau để đi đến lựa chọn cuối cùng về nhãn hiệu quyết định mua.
Yếu tố đầu tiên quan trọng nhất đối với quyết định mua của khách hàng đó là sở thích của người đó về sản phẩm đang được bày bán. Sau đó, khách hàng quan tâm đến mức giá cả mà doanh nghiệp đã định để từ đó cân đối ngân sách mua và quyết định thời điểm nào mua là hữu ích nhất. Đôi khi việc đánh giá dựa trên những tính toán thận trọng và tư duy logic, nhưng đôi khi lại theo cảm tính. Các quan điểm và thái độ của khách hàng tập trung ở một số khía cạnh sau: + Người mua thường coi sản phẩm là một tập hợp các thuộc tính: + Đặc tính kỹ thuật lý – hóa: Công thức, thành phần, màu sắc, khổ cỡ….
+ Đặc tính sử dụng: Thời gian sử dụng, tính đặc thù, độ bền… + Đặc tính tâm lý: Vẻ đẹp, sự trẻ trung, sự thoải mái, mức độ hài lòng về sản phẩm… + Những đặc tính kết hợp: Giá cả, nhãn hiệu, đóng gói dịch vụ… Người tiêu dùng có thể phân loại sản phẩm về mức độ quan trọng và các thuộc tính khác nhau. Cần phải phân biệt hai khái niệm: “thuộc tính nổi bật” và thuộc tính quan trọng. Người tiêu dùng có khuynh hướng xây dựng niềm tin của mình gắn với các nhãn hiệu. Họ đồng nhất một chuỗi niềm tin của mình về sản phẩm với hình ảnh nhãn hiệu.
Quyết định mua hàng Sau khi đánh giá các nhãn hiệu khác nhau có thể thay thế lẫn nhau cho một sản phẩm thì khách hàng hình thành ý định mua hàng. Nhưng từ ý định mua 10 hàng đến quyết định mua hàng đôi khi còn gặp phải những trở ngại khác đó là thái độ của người khác và yếu tố bất ngờ ngoài dự kiến của hoàn cảnh sống. Hành xử sau khi mua Sau khi khách hàng quyết định mua hàng sẽ xảy ra hai trường hợp: hài lòng hoặc không hài lòng. Vấn đề hài lòng hoặc không hài lòng chính là mối tương quan giữa sự mong đợi hay chất lượng kỳ vọng cuả khách hàng đối với thương hiệu và hiệu quả sử dụng thương hiệu mà khách hàng cảm nhận được.
Nếu chất lượng cảm nhận thấp hơn chất lượng kỳ vọng, khách hàng sẽ thất vọng. Nếu chất lượng cảm nhận đáp ứng được mong đợi thì khách hàng sẽ hài lòng. Nếu chất lượng cảm nhận vượt quá mong đợi thì khách hàng sẽ hân hoan và yêu thích thương hiệu.