Chương 1 đã giới thiệu được lý do chọn đề tài, khái quát mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của đề tài. Đồng thời, trong chương này cũng nêu được nội dung nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Đóng góp của đề tài đến thời điểm hiện tại và định hướng về tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng trong tương lai. Đó là tiền đề để các chương sau làm rõ hơn về mức độ tác động của các nhân tố đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn 2. Khái niệm về tỷ lệ an toàn vốn Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision - BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I.
Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%. Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế. Nội dung của Basel I là yêu cầu các ngân hàng phải có tỷ lệ vốn bắt buộc tính trên tổng tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (RWA) ở mức an toàn là 8%. Tuy nhiên Basel I còn nhiều hạn chế như: không có sự phân biệt giữa các loại rủi ro khác nhau, phân loại rủi ro chưa chi tiết, vì vậy phiên bản mới của Hiệp ước vốn Basel II được ban hành ngày 26/6/2004, ngoài việc giữ tỷ lệ an toàn vốn 8% và khắc phục hạn chế của Basel I thì Basel II tập trung nhiều hơn vào các phương pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ luật trên nguyên tắc thị trường.
Basel II được thực hiện theo một lộ trình đến hết năm 2009, sau đó thực hiện đầy đủ từ năm 2010. Vào năm 2010, khung khổ Basel III được hình thành, tại đây đo lường rủi ro thanh khoản được quan tâm nhằm đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu, khắc phục hàng loạt hạn chế của những quy định Basel trước đó và cung cấp 10 nền tảng đảm bảo tính bền vững của hệ thống ngân hàng, góp phần ngăn ngừa những tổn thất hệ thống có thể xảy ra trong tương lai. Tóm lại tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại. Tỷ lệ này là thước đo quan trọng để đo mức độ an toàn hoạt động của ngân hàng, được các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực ngân hàng thuộc Ủy ban Basel dày công xây dựng và phát triển.
Đo lường tỷ lệ an toàn vốn Đo lường tỷ lệ an toàn vốn theo Basel I Theo yêu cầu của Basel I các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc trên tổng tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (CAR) ở mức 8%. Tỉ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc / Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA) Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%. Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng. Tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3 Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố; vốn cấp 2 (vốn bổ sung) và vốn cấp 3 (dành cho rủi ro thị trường).
Thêm vào đó, vốn tính theo rủi ro gia quyền được xác định như sau: RWA = Tổng (Tài sản × Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương × Mức rủi ro ngoại bảng) Basel I phân loại tài sản theo 4 mức rủi ro khác nhau là 0%, 20%, 50% và 100%. Các quy định về đo lường rủi ro của Basel I mang tính cào bằng vì mức 11 độ rủi ro của các tài sản chỉ căn cứ vào tài sản đảm bảo và nhóm khách hàng mà không căn cứ vào quy mô món vay, thời hạn vay và hệ số tín nhiệm của từng khách hàng vay. Bên cạnh đó, một trong những điểm hạn chế cơ bản của Basel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành). Đo lường tỷ lệ an toàn vốn theo Basel II Xuất phát từ hạn chế của Basel I, Basel II ra đời tập trung vào rủi ro và giới thiệu 3 trụ cột: Trụ cột 1 liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc, theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I.
Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường. Trọng số rủi ro của Basel II có nhiều mức từ 0% - 150%, được mở rộng hơn so với Basel I là 0% -100%. Việc triển khai Basel II giúp nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro. Đo lường tỷ lệ an toàn vốn theo Basel III Xuất phát từ những hạn chế của Basel II như chỉ quan tâm đến vấn đề an toàn vốn, thiếu yêu cầu về vốn thanh khoản giúp ngân hàng có thể ứng phó trong giai đoạn khủng hoảng và quá tin cậy vào cơ quan xếp hạng tín dụng nên Basel III được ra đời với những quy định rất chặt chẽ như: • Basel III vẫn giữ tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) là 8%, tuy nhiên thay đổi quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu (cổ phần phổ thông) từ 2% lên 4,5%; nâng tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% lên 6%; bổ sung phần vốn đệm dự phòng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu 2,5%; • Quy định các thành phần về vốn khắc khe hơn như quy định lại về yêu cầu vốn cấp 1, vốn cấp 1 bổ sung và vốn cấp 2 (không có vốn cấp 3); 12 • Quy định tỷ lệ đòn bẩy chặt chẽ hơn Basel II; • Quy định tỷ lệ thanh khoản (Basel I, Basel II chưa quy định); • Yêu cầu tỷ lệ vốn khá cao: yêu cầu thêm vùng đệm bảo toàn vốn và vùng đệm chống rủi ro chu kỳ; • Đưa ra phương pháp đo lường rủi ro đối tác.
Trong thời gian qua, NHNN Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản quy định về tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động của ngân hàng và đến hiện tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đang lựa chọn 1 trong 2 thông tư sau để áp dụng: Thông tư số 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ngày 30/12/2016 có hiệu lực ngày 01/01/2020 và Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ngày 15/11/2019 có hiệu lực ngày 01/01/2020. Quy định về tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN như sau: - Duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% - Tỷ lệ an toàn vốn được xác định bằng công thức: 𝐶 𝐶𝐴𝑅 = × 100% 𝑅𝑊𝐴 + 12,5 ( 𝐾𝑂𝑅 + 𝐾𝑀𝑅 ) Trong đó: C: Vốn tự có; RWA: Tổng tài sản tính theo rủi ro tín dụng; KOR: Vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động; KMR: Vốn yêu cầu cho rủi ro thị trường. Quy định tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN như sau: - Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 9% - Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định bằng công thức: 13 𝑉ố𝑛 𝑡ự 𝑐ó 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑎𝑛 𝑡𝑜à𝑛 𝑣ố𝑛 𝑡ố𝑖 𝑡ℎ𝑖ể𝑢 (%) = × 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cần cố gắng tiếp cận các chuẩn mực quốc tế để gia tăng tính cạnh tranh của mình. Theo đó, hiện đang có 17 NHTM được NHNN chính thức phê duyệt áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo Basel II (Thông tư 41), còn 14 NHTM còn lại đang áp dụng Thông tư 22 và cũng đang nỗ lực để hướng đến áp dụng Thông tư 41 vào năm 2023.
Ý nghĩa của tỷ lệ an toàn vốn Tỷ lệ an toàn vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá hoạt động của NHTM và đây cũng là một trong những tỷ lệ được bàn luận nhiều nhất về cách xác định cũng như mức an toàn phù hợp. Mặt khác, tỷ lệ an toàn vốn là chỉ tiêu quan trọng để xác định hai yếu tố năng lực cạnh tranh và rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các NHTM trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Tỷ lệ an toàn vốn là chỉ tiêu đảm bảo hoạt động của ngân hàng thể hiện mối quan hệ giữa vốn tự có và tài sản có rủi ro quy đổi. Trong đó, vốn tự có phản ánh năng lực của ngân hàng trong việc giảm thiểu rủi ro phá sản và đảm bảo khả năng sinh lời; tài sản có rủi ro quy đổi phản ánh hoạt động sử dụng vốn và mức độ rủi ro của các khoản tín dụng mà ngân hàng đó cấp cho nền kinh tế.
Vì vậy tỷ lệ an toàn vốn phản ánh mức độ chống lại rủi ro của ngân hàng, một ngân hàng đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn nghĩa là ngân hàng đó hoạt động kinh doanh ổn định và hiệu quả. Tỷ lệ an toàn vốn đạt mức quy định góp phần tăng uy tín cho NHTM.