Chương 1 của đề tài tập trung trình bày lý do, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cũng như phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài. Lấy mục tiêu chính là nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập lãi cận biên của các Ngân hàng thương mại nhằm đưa ra được những kiến nghị giúp cho Ngân hàng thương mại tăng khả năng sinh lợi, đặc biệt là thu nhập lãi cận biên. Đề tài sẽ sử dụng phối hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng để giải quyết vấn đề được đề ra, dựa trên dữ liệu lấy từ báo cáo tài chính của 24 Ngân hàng thương mại Việt Nam và dữ liệu vĩ mô được thu thập từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) trong giai đoạn từ năm 2011 – năm 2020. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 2.1 Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp, đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Sự có mặt của hệ thống Ngân hàng thương mại trong hầu hết các mặc hoạt động của nền kinh tế, xã hội đã chứng minh rằng: ở đâu có một hệ thống Ngân hàng thương mại phát triển thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế, xã hội và ngược lại.TS Trần Huy Hoàng, 2011, giáo trình quản trị ngân hàng thương mại Đại học kinh tế TP. Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận (Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 của Quốc hội Việt Nam). - Qua các khái niệm về Ngân hàng thương mại trên, từ đó ta có thể rút ra bản chất của Ngân hàng thương mại được thể hiện qua các điểm sau: + Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế. + Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
+ Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính.2 Các hoạt động của Ngân hàng thương mại Hoạt động cấp tín dụng: Tín dụng ngân hàng là quan hệ cấp tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Cấp tín dụng là việc Ngân hàng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao 9 thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Theo đó cho vay là sản phẩm chủ yếu nhất và thu về lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Hoạt động huy động vốn: là các hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích tạo vốn cho hoạt động kinh doanh của mình, nói các khác là hoạt động tiếp nhận nguồn vốn nhàn rỗi từ các cá nhân, tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.
- Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm/kỹ quỹ, phát hành giấy tờ có giá, vay từ các tổ chức tín dụng khác và Ngân hàng Nhà nước. Hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác: Mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại là doanh thu và lợi nhuận, tuy nhiên an toàn và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình cũng là vấn đề cần quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vì vậy, ngoài các hoạt động cho vay và huy động vốn, các Ngân hàng thương mại hiện nay ngày càng phát triển thêm các sản phẩm và dịch vụ mới nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng qua đó tìm kiếm thêm lợi nhuận với rủi ro thấp hơn. Các sản phẩm dịch vụ mà Ngân hàng thương mại cung cấp vô cùng đa dạng, gồm có: - Hoạt động đầu tư: Bên cạnh hoạt động cho vay và huy động vốn thì hoạt động đầu tư tài chính cũng là hoạt động sinh lợi và phân tán rủi ro cho Ngân hàng thương mại.
Hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại diễn ra chủ yếu trên thị trường tài chính thông qua việc mua bán các chứng khoán. Các Ngân hàng thương mại thành lập các công ty chứng khoán của riêng ngân hàng (Vietcombank Securities, Viet Nam Bank For Industry & Trade Securities JSC,…) nguồn thu từ hoạt động này là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá mua. Các Ngân hàng thương mại còn có thể tiến hành đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp và sẽ được phân chia lơi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Hoạt động thanh toán: Ngân hàng thương mại mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, cung ứng các phương tiện và dịch vụ thanh toán bao gồm: Séc, lệnh chỉ, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng, thẻ ngân hàng,… Thực hiện các dịch 10 vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Thông qua các dịch vụ nêu trên, Ngân hàng thương mại không những thu được các khoản phí mà còn tăng sức cạnh tranh của mình đối với các đối thủ. - Hoạt động bảo hiểm: Hiện nay các ngân hàng và các công ty bảo hiểm hợp tác với nhau để phát triển một cách hiệu quả các sản phẩm của ngân hàng và bảo hiểm trong qua việc cung cấp các sản phẩm cho cùng một cơ sở khách hàng (Bancassur- ance). Các loại bảo hiểm điển hình như: bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm người vay vốn, bảo hiểm cháy nổ,… nhằm mục đích đa dạng hoá danh mục sản phẩm cũng như tăng thêm thu nhập cho ngân hàng. - Hoạt động phát triển ngân hàng số: Các Ngân hàng thương mại hiện nay đang chạy đua với nhau để phát triển nền tảng công nghệ số (ứng dụng ngân hàng số - App) thông qua ứng dụng, khách hàng không cần phải đến các chi nhánh ngân hàng mà vẫn thực hiện được các giao dịch mà ngân hàng vẫn kiểm soát được rủi ro.
Tuy nhiên việc phát triển sản phẩm cũng rất tốn kém bù lại sự tiện ích và lợi nhuận mạng lại là không hề nhỏ. Tóm lại, các Ngân hàng thương mại hiện nay, ngoài việc thực hiện loại hình hoạt động kinh doanh truyền thống còn thực hiện đa dạng hoá các hoạt động khác bằng cách đầu tư vào các thiết bị kỹ thuật, ứng dụng khoa học, công nghệ thông tin 4.0 vào việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng sao cho có thể trở thành ngân hàng hiện đại đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng để từ đó thu về các khoản lợi nhuận.2 Kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại 2.1 Thu nhập của ngân hàng thương mại Thu nhập của Ngân hàng thương mại đến từ hai hoạt động là thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi, cụ thể như sau: - Thu nhập từ lãi là các khoản thu nhập từ các khoản cho vay, huy động vốn, chứng từ có giá ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn và các khoản tín dụng khác. Trong đó, thu nhập lãi chủ yếu của Ngân hàng thương mại là từ khoản thu từ hoạt động cho vay và tiền gửi, chiếm phần lớn tổng thu nhập. 11 + Thu lãi cho vay: là khoản thu từ hoạt động cho vay và là nguồn thu nhập chính của Ngân hàng thương mại, có ảnh hưởng quyết định đến kết quả kinh doanh của ngân hàng, nguồn thu này phản ánh phần nào hiệu quả trong việc sử dụng vốn của ngân hàng.
+ Thu lãi tiền gửi: là nguồn thu từ các khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng thương mại khác theo yêu cầu dự trữ bắt buộc hay mục đích thanh toán. Trường hợp khoản tiền gửi vào Ngân hàng Nhà nước cao hơn quy định của dự trữ bắt buộc thì ngân hàng thương mại sẽ nhận được tiền lãi từ phần chênh lệch hoặc ngân hàng thương mại có thể gửi vốn tạm thời nhàn rỗi tại các TCTD khác để hưởng lãi. - Thu nhập ngoài lãi là những thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối, vàng, bạc, đá quý, kinh doanh chứng khoán,… (Theo Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền 2010). - Thu khác: ngoài các nguồn thu nêu trên thì ngân hàng còn thu tiền thừa quỹ thừa tài sản hoặc thu nợ vay của khách hàng sau khi đã được xóa nợ.2 Chi phí của Ngân hàng thương mại Chi phí lãi: là khoản chi phí mà Ngân hàng thương mại chi trả cho các khoản vốn huy động (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn,…) và tiền vay từ các cá nhân, tổ chức kinh tế; Ngân hàng thương mại phải trả một khoản lãi tiền vay cho các tổ chức kinh tế, cá nhân hoặc Ngân hàng Nhà nước (trường hợp không đủ vốn cho hoạt động kinh doanh).
Khoản chi phí này chiếm một tỷ trọng rất lớn trong các khoản chi của ngân hàng và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của ngân hàng. Chi phí hoạt động: chi phí tiền lương nhân viên, chi phí quản lý, công vụ, chi phí bảo hiểm (y tế, BHXH, kinh phí công đoàn, đoàn, đảng tính trên cơ sở quỹ lương của Ngân hàng thương mại theo quy định của Nhà nước) và các khoản phụ cấp có tính chất lương. Chi phí khác: nộp thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật Việt Nam, quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi theo quy định của Bộ Công Thương, lễ tân, khánh thành, tổ chức hội nghị (hội nghị người lao động, hội nghị khách hàng,…) và các loại chi phí khác.3 Hiệu quả hoạt động kinh doanh Để đánh giá và đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại thì một trong những chỉ tiêu chính đó là lợi nhuận. Lợi nhuận là hiệu số giữa các khoản thu nhập và các khoản chi phí.
Lợi nhuận của Ngân hàng thương mại phản ánh kết quả thực hiện các hoạt động kinh doanh trong năm, bao gồm lợi nhuận hoạt động nghiệp vụ và lợi nhuận từ các hoạt động khác.