Chương 1 với nội dung được đề cập là lý do tác giả chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu. Muốn đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra tác giả hướng đến trả lời những câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Ngoài ra, đề tài được thực hiện bằng cách tiến hành khảo sát KHCN tại Eximbank - Chi Nhánh Thủ Đức. Với các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra tác giả đưa ra các phương pháp nghiên cứu để đạt mục tiêu trên.
Qua nghiên cứu trong luận văn, tác giả đã nêu lên những đóng góp của luận văn. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Cơ sở lý thuyết về tiền gửi tiết kiệm 2. Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm Gửi tiết kiệm là một hình thức đầu tư mà KH gửi một khoản tiền vào NH với mục đích tiết kiệm để dành trong một khoảng thời gian nhất định, kết thúc thời gian đó, người gửi sẽ nhận được một khoản lãi nhất định cộng gốc. Ngày 31/12/2018, NHNN đã ban hành Thông tư số 48/2018/TT-NHNN về Quy định gửi tiền tiết kiệm có hiệu lực từ ngày 05/07/2019.
Theo khoản 1 Điều 5: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng“. TGTK là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiết kiệm của NH, được NH cấp và xác nhận trên thẻ hoặc sổ tiết kiệm, đồng thời khoản tiết kiệm được hưởng lãi theo quy định của NH trong từng thời điểm khác nhau và được bảo hiểm theo quy định của luật pháp về bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam Như vậy, TGTK là số tiền mà KH gửi vào NH để hưởng lãi suất cố định trong một khoảng thời gian nhất định. Số tiền gửi, kỳ hạn, lãi suất sẽ được xác nhận trên sổ tiết kiệm của NH, được hưởng lãi theo quy định của NH và được bảo hiểm dựa trên quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của NH và NHNN. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân 2.1 Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm TGTK có kỳ hạn cụ thể.
Khi đến gửi tiền tiết kiệm, người gửi tiền sẽ lựa chọn kỳ hạn mà mình muốn gửi. Ngày cuối của mỗi kỳ hạn được gọi là ngày đến hạn, người gửi tiền tiết kiệm sẽ nhận lại được một khoản tiền gốc và lãi sau khi đã gửi cho NH một thời gian vào ngày này. Ngoài ra, người gửi tiền vẫn có thể chọn hình thức tiền gửi không kỳ hạn và có thể rút tiền bất cứ lúc nào theo nhu cầu sử dụng. TGTK có khả năng sinh lời ổn định 8 Lãi suất chi trả cho mỗi sản phẩm gửi tiết kiệm sẽ khác nhau vì được quy định theo kỳ hạn gửi.
Lợi nhuận mà KH nhận được từ khoản đầu tư vào các sản phẩm tiết kiệm sẽ thấp hơn so với đầu tư bất động sản, chứng khoán,. Nhưng mặt khác, nguồn lợi nhuận này tuy không cao nhưng mang tính ổn định và khả năng rủi ro thấp hơn so với các thị trường khác. Đối với TGTK không kỳ hạn thì NH sẽ vẫn trả lãi suất nhưng thấp hơn mức lãi suất của TGTK có kỳ hạn. TGTK được quản lý rõ ràng.
TGTK của KH được quản lý thông qua số tiết kiệm. Sổ tiết kiệm là giấy tờ có giá cho thấy KH đang gửi tiền tại NH. Trên sổ tiết kiệm thể hiện rõ thông tin cá nhân của KH, kỳ hạn, lãi suất, số tiền gửi và phương thức rút lãi. TGTK mang tính ổn định, an toàn.
TGTK được coi là tài sản sinh lời ổn định và an toàn cho KH bởi mức lãi suất ít biến động. Người gửi tiền biết trước mức tiền lãi sẽ nhận được khi khoản tiền gửi đến hạn. Bên cạnh đó, theo quy định của NHNN, các NHTM phải thực hiện dự trữ bắt buộc và phải mua bảo hiểm tiền gửi. Do vậy, mức độ an toàn của TGTK tương đối cao.
Từ những đặc điểm trên, có thể thấy TGTK là loại đầu tư an toàn, tiết kiệm thời gian. KH lựa chọn NH để gửi tiết kiệm thông qua các yếu tố: uy tín NH, lãi suất, giao dịch thuận tiện, cần cân nhắc kỳ hạn hợp lý để không phải rút tiền trước kỳ hạn, tránh thiệt thòi cho KH.2 Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân Các nguồn vốn mà NH huy động được (trong đó gồm TGTK KHCN) sẽ quyết định phương hướng hoạt động của NH. Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của NHTM thì nguồn vốn huy động nói chung và TGTK KHCN nói riêng được coi là yếu tố đầu vào, thường xuyên và chủ yếu nhất của NH. Nguồn vốn này luôn có dự biến động lớn, nhất là loại hình TGTK không kỳ hạn do KHCN có nhu cầu rút ra bất kỳ lúc nào, không xác định chính xác thời gian rút tiền.
9 Nguồn vốn huy động từ TGTK KHCN chiếm số lượng lớn và quy mô mỗi giao dịch không lớn (Đặng Thanh Huyền, 2013). NHTM luôn luôn có khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh khoản khi người dân đến rút tiền. Tính thanh khoản của NH phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn huy động ngắn hạn so với các khoản cho vay trung và dài hạn. Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động tiết kiệm từ KHCN tăng hay giảm phụ thuộc vào hình ảnh, thương hiệu, uy tín và cách thức mà NHTM tiếp cận với các KH.
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm hiện nay giữa các ngân hàng xấp xỉ gần bằng nhau nên việc lựa chọn NH để gửi tiền của KHCN tùy thuộc vào một số yếu tố khác bên cạnh yếu tố lãi suất như uy tín, thương hiệu, chính sách chăm sóc khách hàng. Vì vậy, TGTK tạo ra tính cạnh tranh giữa các NHTM trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông qua hoạt động huy động vốn, các NHTM có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo uy tín của NH trên thị trường. Với tiềm năng vốn lớn, NH có thể tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả, tạo điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh, gia tăng khả năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường.
Khái niệm về chất lượng dịch vụ 2. Khái niệm về chất lượng dịch vụ 2.1 Khái niệm về chất lượng, dịch vụ. Theo ISO 9000:2000: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thỏa mãn theo yêu cầu của KH và các bên liên quan” Theo Kotler & Armstrong, “Dịch vụ là một hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên khác về cơ bản là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu bất kỳ thứ gì.” Và theo Zeithaml & Bitner, “Dịch vụ là những hành vi, cách thức, quá trình thực hiện một công việc nào đó nhằm mục đích tạo giá trị sử dụng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của KH” 10 2.2 Khái niệm về chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm Theo Gronroos, “CLDV là kết quả của một quá trình đánh giá khi KH dựa trên so sánh dịch vụ thực sự mà KH đã nhận được với sự mong đợi của họ.” Đồng quan điểm với Gronroos, Parasuraman và cộng sự (1985) đã nhận định “CLDV là một hình thức của thái độ, là kết quả từ sự so sánh giữa dịch vụ thực tế mà KH nhận thức được khi tiêu dùng dịch vụ với sự mong đợi của họ. CLDV có liên quan nhưng không tương đồng với sự hài lòng của KH.” Mọi KH đều có một kỳ vọng lý tưởng về dịch vụ mà họ muốn nhận được khi họ đến một nhà hàng hoặc một cửa hàng.
CLDV đo lường mức độ tốt của một dịch vụ so với sự mong đợi của KH. Doanh nghiệp đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi được coi là có CLDV cao. Theo TCVN ISO 9000:2000: “CLDV là mức độ của một tập hợp các đặc tinh vốn có của dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu, mong đợi của KH và các bên có liên quan”. - CLDV huy động vốn tiền gửi ngân hàng là sự đáp ứng, cung cấp được các sản phẩm tiền gửi thỏa mãn các mục đích và nhu cầu của KHCN, bên cạnh đó phải đảm bảo được các yếu tố an toàn, mang đến sản phẩm hiệu quả với rủi ro thấp nhất.
Theo đó, để đánh giá CLDV huy động vốn tiền gửi của KHCN cần nghiên cứu sự hài lòng của KH khi sử dụng dịch vụ trên cơ sở điều tra khảo sát và sự an toàn, hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của NHTM.2 Các thành phần cơ bản của chất lượng dịch vụ Từ đó ta có được CLDV huy động vốn tiền gửi theo quan điểm của KH tại NHTM ta có được 5 thành phần cơ bản đó là: Độ tin cậy: được xem là một khía cạnh có tác động cao nhất tới cảm nhận của KH về CLDV, chính là những gì mà doanh nghiệp đã hứa khi cung cấp các dịch vụ cho KH. Sự đảm bảo: kiến thức, sự lịch sự của nhân viên và khả năng truyền cảm hứng cho sự tin tưởng và tự tin của KH. Nó được xem là khía cạnh quan trọng khi 11 đối với những sản phẩm, dịch vụ có mức độ rủi ro cao vì KH không thể đánh giá được toàn bộ quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Sự đáp ứng: Nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ sẵn sàng giúp đỡ cho KH, cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng nhất.
Mỗi KH sẽ có các vấn đề, thắc mắc, yêu cầu và khiếu nại riêng. Khả năng đáp ứng chính là sự sẵn sàng giúp đỡ KH giải quyết những vấn đề đó. Sự đồng cảm: thể hiện sự quan tâm, chăm sóc KH. Khi nhân viên đặt mình vào vị trí của KH sẽ giúp họ nhìn rõ được cái mà KH cần.
Sự đồng cảm giúp tạo nên sự tin tưởng và sự tín nhiệm trong KH. Phương tiện hữu hình: các yếu tố đề cập đến trang thiết bị, cơ sở vật chất, ngoại hình của nhân viên khi đối diện với KH 2. Sự hài lòng của khách hàng Sự hài lòng của KH được định nghĩa bằng nhiều khái niệm khác nhau: Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng, “Sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng thông qua một sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được mong muốn và yêu cầu của họ”. Khái niệm này đã cụ thể hóa về “Sự hài lòng của khách hàng” là sự đánh giá được đo lường dựa trên sản phẩm hoặc dịch vụ.