mở đầu cho sự hình thành và phát triển mạng lưới ATM như hiện nay. Mặc dù là đơn vị tiên phong, làm nền móng cho hoạt động thẻ được ra đời và phát triển mạnh mẽ như hiện nay nhưng các đơn vị đi sau cũng đã góp phần không nhỏ trong công cuộc giúp cho bản đồ thẻ của Việt Nam trở nên thay mình, nâng cấp đa dạng như hiện tại. Không chỉ vậy, các nhà băng cũng không ngừng nỗ lực để thay đổi khái niệm "thẻ ATM" - thẻ chủ yếu dùng để rút tiền - trong tiềm thức của người dân. Ngày nay, thẻ ngân hàng đã có mặt ở khắp nơi trên thế giới với những hình thức và chủng loại đa dạng, đáp ứng đầy đủ những nhu cầu riêng lẻ của người tiêu dùng.
Cùng với sự phát triển của 2 tổ chức thẻ quốc tế là VISA và MASTER, một loạt các tổ chức thẻ mang tính quốc tế khác nối tiếp xuất hiện như: JCB, American Epress, Airplus, Maestro, Eurocard,… Sự phát triển mạnh mẽ này đã khẳng định xu thế phát triển tất yếu của thẻ. Các ngân hàng và công ty tài chính luôn tìm cách cải thiện sao cho càng ngày thẻ càng dễ sử dụng và cung cấp những dịch vụ thanh toán tiện lợi nhất cho người tiêu dùng. Hiện nay, người sử dụng thẻ có thể sử dụng thẻ ở hầu hết các nước trên thế giới, họ không còn lo việc chuyển đổi sang đồng tiền nội địa khi đi ra nước ngoài. 11 Bên cạnh những thành tựu đạt được thì qua trình phát triển của thẻ cũng gặp không ít những trở ngại nhất định.
Điển là sự kiện vào mùa Giáng Sinh năm 1966, do bất cẩn trong sổ sách, các ngân hàng Chicago đã gửi thẻ tín dụng tràn lan cho các gia đình, ngay cả người chết và trẻ sơ sinh cũng được gửi. Nhiều người đã sử dụng hoặc bán lại các loại chỉ có người có tên trên thẻ tín dụng mới là người chịu trách nhiệm. Tháng 10/1970, tổng thống Richard Nixon ký một đạo luật cấm những nhà phát hành thẻ không được gửi thẻ cho những ai không có nhu cầu và quy định rằng nếu người mang thẻ báo là bị mất hoặc bị ăn cắp thẻ thì họ sẽ được xoá trách nhiệm thanh toán nợ. Sau đó pháp luật quy định ngày càng chặt chẽ hơn trong vấn đề thẻ.
Ngày nay thẻ đã phát triển và xuất hiện rộng rãi trên toàn thế giới, và trở thành một phương tiện thanh toán phổ biến ở các nước phát triển, các công ty và ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu nhiều lợi nhuận này. Thẻ dần dần được xem là công cụ văn minh thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các loại thẻ Master, Visa, Diner Club, JCB, American Express được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và các loại thẻ này thay phiên phân chia những thị trường rộng lớn.2 Khái niệm về thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng (tiền điện tử) là phương tiện thanh toán hiện đại nhất trên thế giới hiện nay, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành (NHPH) thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng ký kết giữa NHPH và chủ thẻ.
Thẻ còn được dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống ATM. Theo Quy chế phát hành, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ - NHNN ngày15/5/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì Thẻ ngân hàng “là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận”.3 Đặc điểm Hoạt động thẻ ngân hàng là kết quả của sự phát triển khoa học và công nghệ với quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa của các hoạt động dịch vụ tài chính - ngân hàng và đặc biệt là sự phát triển mạng lưới toàn cầu của các ngân hàng, sự liên kết giữa các ngân hàng thành một khối thống nhất trên cơ sở một trung tâm thanh toán bù trừ. Hoạt động thẻ ngân hàng mang lại nhiều tiện ích không chỉ đối với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng mà còn với chủ sử dụng thẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện Sản phẩm dịch vụ nói chung và sản phẩm dịch vụ thẻ thanh toán nói riêng có những đặc điểm cơ bản là tính vô hình, tính không tách rời của sản phẩm dịch vụ, không lưu trữ được, khó xác định chất lượng và không ổn định, tính đồng nhất cao.
- Tính vô hình. Dịch vụ không thể cân, đong, đo, đếm, thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi sử dụng để kiểm tra chất lượng. Với lý do này các ngân hàng sẽ khó khăn trong việc tìm hiểu nhận thức của khách hàng như thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ. Khi sử dụng những sản phẩm dịch vụ này thường không thấy rõ hình dạng cụ thể của loại hình dịch vụ mà chỉ cảm nhận thông qua các tiện ích mà sản phẩm mang lại.
Để giảm bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, khách hàng thường đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụbằng các tiêu chí như địa điểm giao dịch, mức độ trang bị công nghệ, uy tín ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng phải không ngừng thay đổi về hình thức, đa dạng về mẫu mã, nâng cao chất lượng phục vụ, kỹ thuật, trình độ quản lý, tiện ích, tính năng linh hoạt phù hợp với nhu cầu thay đổi của thị trường mới tồn tại và phát triển. Tính không tách rời của sản phẩm dịch vụ ngân hàng được thể hiện trong quá trình cung ứng của ngân hàng. Thực tế cho thấy, quá trình cung ứng và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ ngân hàng thường diễn ra đồng thời với sự tham gia của khách hàng.
Chính điều này làm cho sản phẩm dịch vụ ngân hàng không có khả năng dự trữ. Lý do này đòi hỏi ngân hàng phải có hệ thống cung ứng sản phẩm dịch vụ cũng 13 như phục vụ khách hảng một cách chuyên nghiệp và khoa học, phương pháp phục vụ nhanh với nhiều quầy, địa điểm giao dịch. Không giống như các sản phẩm, dịch vụ khác, loại hình dịch vụ thẻ ngân hàng mang tính đồng nhất cao, sự khác biệt hóa sản phẩm hầu như không có. Do vậy, để thắng lợi trong cạnh tranh các ngân hàng thường tập trung vào các hoạt động liên quan đến việc marketing sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng hơn là tập trung nghiên cứu tạo ra sự khác biệt về đặc tính giữa các sản phẩm.
Tuy nhiên, trong hoạt động thẻ thanh toán cũng ẩn chứa nhiều rủi ro như rủi ro do giả mạo, rủi ro tín dụng, rủi ro về kỹ thuật, công nghệ… 2.4 Phân loại thẻ Trên thị trường có nhiều loại thẻ khác nhau do nhiều tổ chức thẻ phát hành với đặc điểm và công dụng đa dạng, phong phú. Tùy theo từng tiêu chí, thẻ có thể được phân loại như sau: - Theo công nghệ sản xuất: + Thẻ khắc chữ nổi (Embossed card): Đây là loại thẻ sơ khai ban đầu, được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi. Trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cơ bản của khách hàng. + Thẻ băng từ (Magnetic stripe): Là thẻ được tạo ra dựa trên kỹ thuật thư tín với băng từ chứa 2 hoặc 3 rãnh để ghi thông tin của chủ thẻ.
+ Thẻ thông minh (Smart card, Chip card): Là sản phẩm thẻ được gắn chip điện tử với bộ xử lý như một máy tính thu nhỏ đa chức năng và ứng dụng, có khả năng lưu trữ các thông tin quan trọng được mã hóa với độ bảo mật cao. - Theo phạm vi sử dụng + Thẻ nội địa: Là loại thẻ chỉ được sử dụng trong phạm vi một quốc gia và đồng tiền giao dịch tại Việt Nam là VNĐ. + Thẻ quốc tế: Là loại thẻ được chấp nhận thanh toán trên phạm vi toàn cầu và sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán. - Theo chủ thể phát hành 14 + Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): Là loại thẻ do Ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh hoạt số dư tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng hạn mức tín dụng do Ngân hàng cấp.
+ Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là loại thẻ do các tập đoàn kinh doanh lớn gồm các công ty cung ứng hàng hóa dịch vụ, du lịch và giải trí (Visa, Mastercard, UnionPay, JCB, American Express….) phát hành thẻ. - Theo tính chất thanh toán thẻ + Thẻ tín dụng (Credit card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ được thực hiện giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Với hạn mức tín dụng này, chủ thẻ có khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. + Thẻ ghi nợ (Debit card): Là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thanh toán hành hóa dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi thanh toán và hạn mức thấu chi được cấp.
+ Thẻ trả trước (Prepaid card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ, tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Theo hạn mức giao dịch/ ngày + Thẻ chuẩn: là loại thẻ có hạn mức thấp, mang tính phổ biến và đại chúng. + Thẻ vàng: Là loại thẻ có hạn mức tương đối cao. + Thẻ Bạch kim: Thẻ được cấp hạn mức cao nhất, thường dành cho giới thượng lưu, những khách hàng có nhu cầu thanh toán cao.5 Vai trò và lợi ích 2.1 Đối với nền kinh tế Góp phần thu hút tiền gửi trong dân cư vào ngân hàng, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm chi phí phát hanh tiền giấy, vận chuyển, lưu trữ và tiêu hủy tiền.
Mọi giao dịch trên toan thế giới được thực hiện và thanh toán trực tuyến.2 Đối với xã hội Góp phần vào công cuộc “kích cầu” của Nhà nước, thu hút khách du lịch và các nhà đầu tư vào Việt Nam, cải thiện môi trường thương mại và nhu cầu thanh toán, ứng dụng khoa học công nghệ vào đời sống 2.3 Đối với các ngân hàng thương mại Tăng doanh thu và lợi nhuận của các NHTM.