Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và Gợi ý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 2.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm và bản chất của rủi ro tín dụng Rủi ro hàm nghĩa là khả năng xảy ra tổn thất và có thể diễn ra đối với tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tài chính. Theo Bùi Diệu Anh (2013), rủi ro có thể xuất hiện bất ngờ không được dự báo trước và gây tổn thất lớn tới sự an toàn nhân lực, vật lực và ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận hoạt động của ngân hàng. Theo Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác vay vốn không thực hiện một nghĩa vụ tài chính của mình và/hoặc nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng đối với ngân hàng bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Hiểu một cách khác thì rủi ro tín dụng là rủi ro không thu hồi được nợ khi đến hạn do người vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc có hoàn trả khi đáo hạn.
Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, có hai cấp độ: + Khách hàng có khả năng trả nợ nhưng tiến độ trả không đúng hạn. + Khách hàng không có khả năng trả được nợ cho ngân hàng. Theo khoản 1, Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT – NHNN ngày 21/01/2013 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì khái niệm rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Hiểu theo nghĩa rộng, rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng vay nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn quy định.
Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán… của ngân hàng và kể cả ngân hàng mua các loại trái phiếu của doanh nghiệp (Nguyễn Minh Kiều, 2007). Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất và lớn nhất trong thị trường tài chính, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng vì các khoản tín dụng thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra tỷ lệ lớn thu nhập cho ngân hàng (Bhattacharya & Roy, 2008). Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất, đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy ra.2 Phân loại rủi ro tín dụng Theo Trần Huy Hoàng (2011), căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia như sau: Rủi ro giao dịch: là những rủi ro phát sinh do những hạn chế, sơ sót trong quá trình xét duyệt giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay (Có hai sai lầm thường gặp đó là quyết định cho vay đối với dự án không tốt và quyết định không cho vay đối với dự án tốt). +Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm tiền vay như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, hợp đồng bảo đảm tài sản, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Rủi ro danh mục: là những rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng.
Rủi ro danh mục được chia làm hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc các đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, một lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trường hợp đối với nợ lãi và nợ gốc. Đó là việc không thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạn hoặc không thu đủ vốn (Trần Huy Hoàng, 2011).1: Các hình thức rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng Không thu Không thu Không thu đủ Không thu đủ được lãi đúng được vốn đúng lãi vốn hạn hạn Lãi treo phát Nợ quá hạn -Lãi treo đóng -Nợ không có sinh phát sinh băng khả năng thu -Miễn giảm lãi hồi -Xóa nợ Nguồn: Quản trị ngân hàng thương mại (Trần Huy Hoàng, 2011) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức, các hình thức đó luôn chuyển biến cho nhau mà mức độ cuối cùng là nợ không có khả năng thu hồi. Khi nghiên cứu rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào các nguy cơ xảy ra rủi ro, còn lãi treo đóng băng và nợ không có khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro để giải quyết hậu quả và rút ra bài học.3 Các dấu hiệu cảnh báo sớm rủi ro tín dụng Nhận diện đúng rủi ro tín dụng để từ đó có những giải pháp phù hợp nhằm phòng ngừa và xử lý các khoản tín dụng có rủi ro, là động tác quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Theo các báo cáo kiểm soát nội bộ Ngân hàng, CBTD luôn phải theo dõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau: Bảng 2.1: Các dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng Phân loại STT Nội dung Không thực hiện đầy đủ các cam kết với Ngân hàng như chậm thanh toán/thanh toán không đầy đủ các khoản nợ Nhóm dấu gốc/lãi khi đến hạn, trì hoãn hoặc gây khó khãn cho ngân hiệu liên 1 hàng trong kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, chậm gửi quan đến hoặc trì hoãn gửi các số liệu/báo cáo tài chính theo yêu mối quan cầu của ngân hàng mà không có sự giải thích minh bạch, hệ giữa thuyết phục ngân hàng Mức độ vay gia tăng, yêu cầu cấp tín dụng vượt quá nhu với khách cầu dự kiến, tìm kiếm thêm nhiều nguồn tài trợ vốn lưu hàng: 2 động từ nhiều kênh khác như vay nặng lãi hoặc từ các TCTD khác, đề nghị cơ cấu nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Có sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản thanh toán/doanh số ghi có tại Ngân hàng, dùng nguồn thu nhập 3 khác không phải từ hoạt động sản xuất chính để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán nợ Có dấu hiệu tài sản đảm bảo đã cho người khác thuê, bán 4 hay trao đổi hoặc không còn tồn tại 5 Sử dụng vốn ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn Phương thức thanh toán không an toàn: chiết khấu nhiều 1 hơn, thanh toán chậm hơn, bán cho khách hàng mức độ tin cậy thấp Nãng lực quản trị yếu kém: nội bộ mâu thuẫn, thay đổi thường xuyên nhân sự chủ chốt, phương án kinh doanh 2 không hiệu quả, không kiểm soát được hoạt động, tiến độ Nhóm dấu thực hiện, chi phí hiệu là các Nãng lực tài chính yếu kém: vốn chủ sở hữu thấp, dư nợ yếu tố bên cao, hạch toán khống các khoản mục (hàng tồn kho, vốn 3 trong và chủ sở hữu, lợi nhuận, rút vốn ra khỏi doanh nghiệp bằng bên ngoài cách mua lại vốn góp của cổ đông với giá cao.) doanh Ðầu tư dàn trải ngoài lĩnh vực kinh doanh chính của 4 nghiệp: doanh nghiệp Yếu tố chuyển giá: giao dịch với công ty con hoặc công 5 ty của người có liên quan điều chỉnh giá nhằm đẩy chi phí tăng cao chuyển lợi nhuận cho cá nhân, công ty con Các tác động có ảnh hưởng tiêu cực khác từ môi trường 6 bên ngoài: thị hiếu tiêu dùng của khách hàng thay đổi; thay đổi chính sách về thuế quan, trợ cấp, chống bán phá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.