mở đầu với lý do chọn đề tài nghiên cứu từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Tiếp theo, khóa luận đưa ra các câu hỏi nghiên cứu tương ứng với từng mục tiêu cụ thể nhằm xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Thêm vào đó, chương này sẽ trình bày thêm ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu đồng thời kết thúc bằng cách xây dựng kết cấu tổng thể của đề tài.1 Lý do nghiên cứu Xuyên suốt chiều dài lịch sử trải dài từ quá khứ cho đến hiện tại thì hoạt động của một ngân hàng thƣơng mại thƣờng đi đôi với sự đi lên của sản xuất hàng hoá do đó sự phát triển của ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và đóng vai trò nhƣ một định chế tài chính quan trọng trong việc giúp Chính Phủ thực thi chính sách tiền tệ nhằm cải thiện đời sống nhân dân và đất nƣớc. Khi đề cập đến vai trò của Ngân hàng thƣơng mại đối với nền kinh tế thì có nhiều nghiên cứu đã và đang đề cập đến vai trò này có thể kể đến nhƣ theo Ongore (2013) thì các ngân hàng thƣơng mại đóng một vai trò quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực kinh tế giữa các quốc gia bằng việc chuyển nguồn vốn từ ngƣời gửi tiền đến nhà đầu tƣ một cách liên tục.
Ngoài chức năng trung gian, Hiệu quả tài chính đến từ các hoạt động của các ngân hàng còn có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trƣởng kinh tế của mỗi quốc gia (Okoth, 2013). Bên cạnh đó, theo Samolyk (2004) thì hoạt động của ngân hàng thƣơng mại là một trong những hoạt động không thể thiếu trong Thị trƣờng tài chính vì Ngân hàng có vai trò trong việc tạo điều kiện thanh toán và việc chuyển tín dụng đến các hộ gia đình và doanh nghiệp bằng cách cung cấp dịch vụ sàng lọc, giám sát khách hàng vay và đa dạng hóa nhiều đối tƣợng vay từ đó làm giảm chi phí cung cấp tín dụng. Từ những nghiên cứu trên cho thấy tầm quan trọng của Ngân hàng thƣơng mại đối với nền kinh tế của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng với nhiệm vụ cung cấp những khoản vay, những khoản thanh toán và dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp hoặc cá nhân hỗ trợ kinh doanh vay vốn và tài trợ. Trong đó, hoạt động tín dụng (cho vay) đƣợc xem nhƣ là hoạt động “chủ lực” trong ngành Tài Chính - Ngân hàng vì đây là hoạt động 19 đem lại tỷ trọng doanh thu cao nhất so với các hoạt động khác thông qua việc thu hồi gốc và lãi vay từ đó giúp Ngân hàng chi trả các chi phí tài chính và chi phí hoạt động đồng thời cung cấp các khoản vay cho các khách hàng để họ cải thiện cuộc sống và mở rộng kinh doanh sản xuất.
Vì thế, quản trị tốt rủi ro tín dụng là một công cụ quan trọng làm tăng lợi nhuận của ngân hàng (Öker, 2007). Do đó, việc thiếu ổn định trong khả năng cho vay với khách hàng sẽ khiến Ngân hàng đối mặt với nhiều nguy cơ rủi ro từ tài chính nhƣ gia tăng nợ xấu dẫn đến thất thoát các nguồn vay cần thiết và gặp nhiều khó khăn trong vấn đề thanh khoản hoặc mất khả năng thanh toán. Ngoài ra, việc gia tăng tỷ lệ rủi ro tín dụng trong khi cung cấp dịch vụ cho các ngành công nghiệp có thể ảnh hƣởng đến chất lƣợng tài sản và thậm chí cả tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng trong dài hạn (Khawaspatil và cộng sự, 2013). Đặc biệt, việc không kiểm soát tốt tỷ lệ rủi ro tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại có thể dẫn đến những hệ quả vô cùng nghiêm trọng đối với thị trƣờng tài chính, thậm chí gây khủng hoảng kinh tế trầm trọng, nổi bật là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 xảy ra do chịu ảnh hƣởng bởi nợ xấu của các khoản vay thế chấp và các khoản vay khác tại Mỹ đã khiến nhiều tổ chức cũng nhƣ công ty tài chính lâm vào cảnh phá sản (Brown và Moles, 2014).
Vì thế, việc tìm hiểu và nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại nhằm đáp ứng các khía cạnh sau: Về mặt thực tiễn, Rủi ro tín dụng đang là một trong những vấn đề gây khó khăn không nhỏ cho các Ngân hàng thƣơng mại trên thế giới. Theo Kuzucu (2019) cho rằng kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 diễn ra đã gia tăng lớn tỷ lệ rủi ro tín dụng trong hệ thống các ngân hàng thƣơng mại toàn cầu, khiến nhiều ngân hàng phải đối mặt với nợ xấu tăng cao và thất thoát tài chính. Nguyên nhân dẫn đến sự ảnh hƣởng trên là do cấu trúc Hệ thống ngân hàng thay đổi dẫn đến các hoạt động tài chính có thể kết nối ra toàn cầu, gây ảnh hƣởng đến cả các nƣớc kinh tế tiên tiến khác. Bên cạnh đó, theo thống kê từ dữ liệu của Ngân hàng Thế giới vào năm 2009 chỉ ra tỷ lệ của rủi ro tín dụng có xu hƣớng tăng cao hơn ở các nƣớc mới nổi, trong đó có Việt Nam vừa mới gia nhập WTO vào ngày 11/01/2007.
Theo Vụ trƣởng Nguyễn Đức Long (2021) thì trong giai đoạn 2011-2016, 20 sau ảnh hƣởng từ cuộc khủng hoảng toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam liên tục chịu nhiều thách thức từ tỷ lệ lạm phát tăng mạnh (từ 11,8% năm 2010 tăng lên 18,13% năm 2011); mặc bằng lãi suất cho vay đối với thị trƣờng tiền tệ và thị trƣờng vàng luôn dao động ở mức 20 - 25%/năm, hoạt động của các tổ chức tài chính tiềm ẩn nhiều rủi ro khiến chất lƣợng tín dụng giảm, thanh khoản thấp dẫn đến nợ xấu tăng nhanh. Thêm vào đó, từ năm 2020 trở đi, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng còn chịu tác động của đại dịch Covid 19 khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, GDP giảm dẫn đến nhìu khách hàng không có khả năng trả nợ làm tăng nguy cơ về rủi ro tài chính. Về mặt học thuật, phần lớn các nghiên cứu về nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại thƣờng hƣớng đến các vấn đề liên quan đến Nợ xấu, lạm phát và hệ số an toàn vốn mà chƣa nêu cụ thể đƣợc những nhân tố khác. Mặt khác, kết quả của các bài nghiên cứu lại khác nhau và chƣa có tính thống nhất về mặt phƣơng pháp, cho thấy rằng việc tiếp cận và nghiên cứu về rủi ro tín dụng vẫn còn hạn chế .2 Lý do chọn đề tài , rủi ro tín dụng từ hoạt động tài chính đƣợc xem nhƣ là một vấn đề nan giải mà các Ngân hàng thƣơng mại đang phải đối mặt, đặc biệt là sau giai đoạn đất nƣớc chịu thiệt hại nhiều về kinh tế bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây ra những tình trạng nhƣ tỷ lệ lạm phát tăng cao, tình hình cạnh tranh giữa các Tổ chức tín dụng diễn ra không lành mạnh cùng với nhiều doanh nghiệp lẫn khách hàng gặp khó khăn trong việc chi trả các khoản nợ khiến nợ xấu cao, chất lƣợng tín dụng thấp và xử lý thanh khoản kém.
Thêm vào đó, từ năm 2020 trở đi còn xảy ra sự kiện dịch Covid 19 khiến cho tăng trƣởng kinh tế giảm sút, lãi suất tăng dẫn đến nhiều ngƣời dân không đủ tiềm lực tài chính để vay vốn và trả nợ vay từ đó phát sinh nợ xấu và nợ quá hạn cho các ngân hàng. Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế còn gây ảnh hƣởng đến các doanh nghiệp nhƣ theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2020, cả nƣớc có gần 101.700 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Việc thiếu nguồn cung cấp vốn cùng với sự gia tăng nợ xấu, nợ quá hạn khiến cho nguy cơ rủi ro tín dụng càng tăng một mức đáng kể. Chính vì lý do đó mà nhiều ngân hàng thƣơng mại đang phải đối mặt với tình hình rủi ro không an toàn.
Theo Báo cáo tài chính quý 1/2021, nhiều ngân hàng có nợ xấu tăng mạnh nhƣ ACB nợ xấu tăng 61% lên 2.954 tỷ 21 đồng, VPBank nợ xấu tƣơng ứng hơn 10.420 tỷ đồng, VietinBank nợ xấu hiện khoảng hơn 8.950 tỷ đồng, MBBank lên hơn 4. Vì thế, trƣớc thực trạng nợ xấu và nợ quá hạn hiện nay thì ngân hàng cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc khắc phục những rủi ro tài chính và nâng cao quản lý hệ thống tín dụng bằng nhiều cách khác nhau nhƣ thiết lập một cơ chế thích hợp để đo lƣờng, kiểm soát và giám sát mức độ lành mạnh của rủi ro tín dụng (Ngân hàng Thanh toán Quốc tế “BIS”, 1999). Đặc biệt, các ngân hàng cần phải nhận thức và hiểu rõ những yếu tố tác động lên rủi ro tín dụng thì từ đó mới tìm ra các giải pháp khắc phục vấn đề trên. Do đó, tác giả nghiên cứu nhận thấy đƣợc sự cấp thiết và quan trọng của đề tài: “Các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại ”.
Đề tài này nhằm phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thƣơng mại trong giai đoạn 2010-2021 để đƣa ra các giải pháp thích hợp nhằm đảm bảo nâng cao và phát triển hoạt động kinh doanh ngân hàng, góp phần hỗ trợ cho ngƣời dân có cuộc sống đầy đủ hơn.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tổng quát Mục tiêu chung của đề tài là tìm ra các yếu tố ảnh hƣởng đến Rủi ro tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2021 và lƣợng hóa đƣợc các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng trên. Từ đó, nghiên cứu sẽ đƣa ra các hàm ý chính sách để nâng cao chất lƣợng tín dụng và hạn chế các nguy cơ về rủi ro tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại .2 Mục tiêu cụ thể Căn cứ vào mục tiêu chung của đề tài, khóa luận trình bày những mục tiêu cụ thể nhƣ sau: - (1) Nhận biết các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại trong giai đoạn 2010-2021. 22 - (2) Lƣợng hóa mức độ tác động của các yếu tố đến rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thƣơng mại trong giai đoạn 2010-2021. - (3) Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thƣơng mại .