CHƯƠNG 1 Chương này, luận văn đã trình bày tổng quát về các vấn đề nghiên cứu cũng như đưa ra được những vấn đề cơ bản nhất của nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của nghiên cứu. Bên cạnh đó, luận văn còn đưa ra các phương pháp sơ lược cũng như cách thiết kế bố cục luận văn, từ đó làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu các chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM Ở chương này, tác giả giới thiệu khái niệm và lý thuyết về nợ xấu, các chỉ tiêu đánh giá nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng TMCP Việt Nam. Đồng thời, chương này cũng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng TMCP Việt Nam.
Đồng thời chương này cũng làm nền tảng cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương sau.1 Khái niệm nợ xấu Thuật ngữ nợ xấu được sử dụng với các từ khác nhau như “Non performing loans”, “bad debt” chỉ các khoản nợ khó đòi (Fofack, 2005) hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger & De Young, 1997) hoặc khoản nợ không trả được mà ngân hàng không thể thu hồi (Ernst & Young, 2004) hay các khoản cho vay được đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên (Rose, 2004). Hiện nay, không có bất kỳ một quy tắc nào hay chuẩn mực nào được thống nhất khi nói về vấn đề nợ xấu. Theo nhóm chuyên gia tư vấn của Liên hợp quốc Advisory Expert Group (AEG) cho rằng định nghĩa nợ xấu không phải mang tính chất mô tả mà chỉ nên sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng (AEG, 2004). AEG đã thống nhất định nghĩa “về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắn chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Hay cách khác, nợ xấu xác định dựa vào 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày, và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. 7 Trong hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về vấn đề quản lý rủi ro tín dụng, Uỷ ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) đã xác định việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai điều kiện sau xảy ra: (i) Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi ví dụ như giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ); (iii) Người vay đã quá hạn trả nợ 90 ngày (BCBS, 2006). BCBS đã nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai” khi đánh giá nhận xét một khoản vay. Vì vậy, dựa trên hướng dẫn đó, nợ xấu bao gồm toàn bộ các khoản vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu không trả được nợ.
Tuy nhiên, một số quốc gia báo cáo rằng nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn 31 ngày, hoặc quá hạn 61 ngày được tính vào danh mục nợ xấu (Bloem & Freeman, 2005). Theo FSIS (2004), Qũy Tiền tệ quốc tế IMF nợ xấu là “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thõa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ. Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó được thu hồi được khoản vay thay thế”. Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN ban hành năm 2021, nợ xấu bao gồm các nhóm nợ được phân loại như sau: “Nhóm 3: Dư nợ dưới tiêu chuẩn là các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nhóm 4: Dư nợ có nghi ngờ các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai. Nhóm 5: Dư nợ có khả năng mất vốn là các khoản nợ quá hạn trên 360 8 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.” Trong đề tài này, quan điểm về nợ xấu theo tác giả phải dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng. Nghĩa là một khoản vay trong hạn hoặc thậm chí mới cho vay nếu có những dấu hiệu chứng tỏ khả năng trả nợ khoản vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thể được coi là một khoản vay xấu.2 Tiêu chí phân loại nợ xấu Để đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng, thì ngân hàng cần dựa vào cơ sở phân loại nợ để chủ động trích lập dự phòng rủi ro tín dụng mục đích để đối phó với rủi ro cũng như giảm thiểu các khoản nợ quá hạn. Tùy thuộc vào các quốc gia khác nhau mà việc phân loại nợ cũng khác nhau và được thực hiện dựa trên các tiêu chí định tính và định lượng.
Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN ban hành năm 2021về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, dư nợ của ngân hàng được phân thành 5 nhóm nợ gồm: nhóm 1- nợ đủ tiêu chuẩn, nhóm 2- nợ cần chú ý, nhóm 3- nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm 4- nợ nghi ngờ và nhóm 5- nợ có khả năng mất vốn. Quy định phân loại nhóm nợ thành 5 nhóm của NHNN Việt Nam là phù hợp với thông lệ quốc tế theo khuyến nghị của BCBS và các quốc gia phát triển như Mỹ, Singapore, Nga, Trung Quốc.2 Các lý thuyết liên quan • Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) Lý thuyết thông tin bất cân xứng được George Akerlof đề cập vào những năm 1970 đã chỉ ra rằng sự bất cân xứng là trạng thái không có sự cân bằng trong việc 9 nắm giữ thông tin giữa các bên tham gia giao dịch. Khi đó giá cả phải là giá cân bằng của thị trường mà có thể quá thấp hoặc quá cao dẫn đến thị trường không đạt hiệu quả. Thông tin bất cân xứng sẽ dẫn đến hai hệ quả phổ biến là rủi ro ngược hay còn gọi là sự lựa chọn nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard).
Lựa chọn nghịch là vấn đề do thông tin bất cân xứng tạo ra trước khi tiến hành giao dịch. Rủi ro ngược xảy ra khi trong một giao dịch, bên bán hoặc bên mua biết rõ hơn một hay một vài tính chất của sản phẩm mà đối tượng kia không biết. Kết quả là, bên kém ưu thế về thông tin có thể nhận phải những thứ không như mình muốn sau khi giao dịch. Tình trạng này gây ra những tổn thất xã hội và nhiều vấn đề khác như sức khỏe người tiêu dùng, sự mất lòng tin vào những sản phẩm tương tự có chất lượng tốt trên thị trường.
Rủi ro đạo đức là tình trạng cá nhân hay tổ chức có hành động mà người khác không thể quan sát được có xu hướng gian dối, không trung thực hay biểu hiện những hành vi không tốt. Rủi ro đạo đức xảy ra khi một cá nhân hay tập thể không chịu toàn bộ trách nhiệm hay hậu quả cho việc mình làm, làm cho người khác phải chịu một phần trách nhiệm hay hậu quả việc làm của mình. Theo Zhang et al., (2016) đối với ngân hàng Trung Quốc trong giai đoạn 2006- 2012 về tác động của nợ xấu đến hành vi của ngân hàng đã cho thấy tỷ lệ nợ xấu tăng sẽ làm gia tăng các khoản cho vay rủi ro. Qua kết quả nghiên cứu, khi ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp, nguyên nhân được cho là bởi những người đi vay kém may mắn khi sử dụng khoản vay, vì vậy ngân hàng không có động cơ để chấp nhận cho vay những khoản tín dụng quá nhiều rủi ro, nên tỷ lệ nợ xấu không tăng kèm theo tăng trưởng tín dụng.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng khuyến nghị rằng tính minh bạch khi cho vay là rất quan trọng, nếu không, cả ngân hàng và khách hàng sẽ phải chịu những hậu quả không như mong đợi, đặc biệt là những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao. • Giả thuyết Hiệu ứng quy mô (size effect hypothesis) Theo Salas và Saurina (2002) các ngân hàng có quy mô lớn cho phép cơ hội đa dạng hóa nhiều hơn. Ngược lại với giả thuyết “hiệu ứng quy mô”, giả thuyết “quá 10 lớn để phá sản” (too big to fail hypothesis) cho rằng các ngân hàng lớn thì sẽ chấp nhận rủi ro bằng cách tăng sử dụng vốn cho vay của mình, vì thế nợ xấu nhiều hơn. Do không áp đặt kỷ luật thị trường đối với các ngân hàng lớn, những người mong đợi chính phủ bảo vệ trong trường hợp ngân hàng phá sản (Stern và Feldman, 2004).
Chính vì vậy, khi các ngân hàng lớn tăng đòn bẩy của họ lên quá nhiều và cho vay với chất lượng tín dụng thấp.