chương 1, đề tài trình bày chung về lý do chọn đề tài “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, mục tiêu của đề tài, tiếp đó là trình bày về các đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Sau đó đưa ra phương pháp nghiên cứu, bố cục cùng ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2: Lý luận tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại 2.1 Tổng quan về hoạt động của Ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại (NHTM) thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
Theo Trầm Thị Xuân Hương và các cộng sự (2012) thì hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM tùy theo lịch sử hình thành của hệ thống ngân hàng: Theo Ngân hàng thế giới: Ngân hàng đó là tổ chức tài chính chuyên nhận tiền gửi phần lớn dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm). Dưới tên gọi “các ngân hàng” gồm có: Ngân hàng thương mại thì chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn, trung dài hạn; Ngân hàng đầu tư hoạt động chủ yếu là mua bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; Ngân hàng nhà ở chuyên cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại ngân hàng khác nữa. Tại một số nước có thêm ngân hàng tổng hợp, kết hợp hoạt động ngân hàng thương mại với hoạt động đầu tư và đôi khi còn thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm. Tại Mỹ: NHTM được định nghĩa là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ về tài chính như nhận tiền gửi, chuyển tiền, thanh toán, cho vay, đầu tư, đổi tiền mua bán ngoại hối và các dịch vụ khác liên quan đến tiền như bảo quản, ủy thác, làm đại lý trong nước và quốc tế.
Tại Pháp: Đã có đạo luật về ngân hàng Pháp ban hành năm 1941 nêu rõ, NHTM là những xí nghiệp hay là những cơ sở mà công việc thường xuyên là nhận tiền bạc của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 người dân dưới hình thức ký thác, hoặc là các hình thức khác và sử dụng số tiền đó cho chính họ trong các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng và cung cấp dịch vụ tài chính. Tại Việt Nam: Pháp luật Việt Nam có nêu rõ khái niệm về NHTM tại điều 4 của Luật các các tổ chức tín dụng vào ngày 16 tháng 06 năm 2010, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng mà được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Từ những nhận định trên có thể thấy rằng NHTM là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, đó là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu ngày càng cao về sản phẩm dịch vụ của xã hội, nhằm mực tiêu lợi nhuận.2 Đặc điểm của NHTM: Là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận.
Đây là tổ chức đặc biệt vì đối tượng kinh doanh là tiền tệ, hoạt động tín dụng là đặc trưng chủ yếu được thực hiện chủ yếu bằng cách thu hút vốn tiền tệ trong xã hội để cho vay. Hoạt động kinh doanh của NHTM được phân vào nhóm hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro rất cao. Sự tồn tại của NHTM phụ thuộc nhiều vào lòng tin và mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Các hoạt động kinh doanh của NHTM chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại Theo Trầm Thị Xuân Hương và các cộng sự (2012) thì các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động nguồn vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động dịch vụ trung gian, cụ thể là 2.1 Hoạt động nguồn vốn Vốn chủ sở hữu, là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM, quyết định năng lực tài chính, quy mô hoạt động và khả năng cạnh tranh của NHTM. Đây là vốn không phải hoàn trả trong quá trình hoạt động của ngân hàng, ổn định và thông thường được dùng cho các mục đích dài hạn. Nguồn vốn này được bổ sung từ lợi nhuận trong quá trình hoạt động, phát hành thêm cổ phần hay góp thêm vốn, các quỹ… Vốn huy động, là nguồn vốn của các chủ thể trong nền kinh tế được ngân hàng tạm thời quản lý sử dụng để kinh doanh trong một thời gian nhất định và phải hoàn lại cho chủ sở hữu. Vốn này có tính biến động cao do phải trả cho chủ sở hữu cả vốn và lãi khi đến hạn, vì vậy các NHTM phải có nguồn dự trữ để kịp thời đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
NHTM huy động vốn bằng các nghiệp vụ nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại công cụ nợ khác. Vốn vay, là nguồn vốn NHTM thỏa thuận sử dụng để bù đắp thiếu hụt thanh khoản tạm thời trong hoạt động kinh doanh. Nguồn này có thể được NHTM vay của tổ chức tín dụng khác trong nước, của ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài hoặc của ngân hàng trung ương. Vốn khác, là các nguồn vốn từ vốn tài trợ, ủy thác từ các chủ thể trong nước và nước ngoài; vốn chiếm dụng phát sinh từ dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ thanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 toán quốc tế; vốn điều hòa trong hệ thống NHTM điều tiết từ các chi nhánh thừa vốn sang các chi nhánh thiếu vốn.2 Hoạt động sử dụng vốn Sau khi huy động được vốn thì các NHTM phải làm thế nào để hiệu quả hóa những nguồn này, nghĩa là tìm cách đầu tư khoản tiền đó vào đúng nơi, đúng chỗ, có hiệu quả, an toàn và đem lại nhiều hiệu quả cho ngân hàng.
NHTM đã sử dụng vốn qua các nghiệp vụ: Mua sắm tài sản cố định, là nghiệp vụ sử dụng vốn đầu tiên của NHTM để xây dựng trụ sở, văn phòng, hệ thống kho quỹ, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thiết lập dự trữ, nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản thường xuyên của NHTM dưới hình thức tiền mặt tại quỹ, tiền gửi các NHTM khác hoặc chứng khoán có khả năng thanh khoản cao. Cấp tín dụng, là nghiệp vụ phân phối nguồn vốn còn lại của ngân hàng cho các chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế để điều tiết vốn cho nền kinh tế và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là mảng tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Các nghiệp vụ tín dụng chính tại các NHTM gồm cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh, bao thanh toán, thấu chi tài khoản tiền gửi thanh toán, cho thuê tài chính. Hoạt động đầu tư, nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập và phân tán rủi ro, các NHTM sử dụng nguồn vốn để đầu tư vào các lĩnh vực khác như hùn vốn, góp vốn liên doanh với các tổ chức tổ chức tài chính khác, mua cổ phần của các NHTM khác hoặc các tổ chức kinh tế khác và hoạt động đầu tư vào các loại giấy tờ có giá, các loại chứng khoán có tính thanh khoản cao trên thị trường chứng khoán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Hoạt động dịch vụ trung gian Ngoài hai hoạt động cơ bản là hoạt động nguồn vốn và hoạt động sử dụng vốn thì các NHTM cũng thực hiện các dịch vụ trung gian cho khách hàng của mình. Dịch vụ này được gọi là dịch vụ trung gian bởi vì khi thực hiện hoạt động này NHTM đứng ở vị trí trung gian để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng để được hưởng hoa hồng và phí dịch vụ.
Dịch vụ này ngày càng phát triển về cả số lượng và cả chất lượng, gồm nhiều loại dịch vụ khác nhau như thu hộ chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ giữ hộ tài sản, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ chi lương hộ cho doanh nghiệp, dịch vụ khấu trừ tự động. Hoạt động nguồn vốn, sử dụng vốn và hoạt động dịch vụ trung gian là các hoạt đồng cơ bản của ngân hàng. Các hoạt động này có mối quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ lẫn nhau phát triển, tạo uy tín cho ngân hàng. Có huy động vốn mới có nghiệp vụ cho vay, cho vay có hiệu quả thì mới phát triển kinh tế, từ đó có vốn huy động vào.
Và muốn hai hoạt động này tốt thì ngân hàng phải làm tốt vai trò trung gian. Chính sự kết hợp đồng bộ này tạo thành quy luật trong hoạt động của ngân hàng và tạo thành xu hướng kinh doanh tổng hợp, đa năng của NHTM.2 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Đối với bất kỳ tổ chức hay nhà kinh tế nào cũng đều quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, bởi bất kỳ hoạt động nào của doanh nghiệp cũng hướng tới mục đích hiệu quả. Doanh nghiệp nào cũng xem xét làm sao để bỏ một đồng vốn vào hoạt động kinh doanh sẽ mang lại hiệu quả cao nhất và lợi nhuận cao nhất. Hiện tại có rất nhiều khái niệm về hiệu quả kinh doanh.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Để hiểu được phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước tiên chúng ta tìm hiểu xem hiệu quả kinh tế nói chung là gì.