Chương 1: Tổng quan nhân rủi ro tín dụng tại Chương 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ủi ro tín dụng tại ổ phầ Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Chương 4: Ứng dụng kết quả nghiên cứu đề xuất giải pháp về dự phòng rủi ro tín dụng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN V CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Trong chương này, các lý thuyết liên quan đến ngân hàng, chủ yếu nhấn mạnh đến các lý thuyết về rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng ngân hàng sẽ được trình bày. Bố cục trong chương này được trình bày theo ba phần: Tổng quan về rủi ro tín dụng Tổng quan về d C tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng.
Nội dung như vừa đề cập sẽ được trình bày cụ thể như sau: 1.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng Theo Bessis (2002), rủi ro ngân hàng là những ảnh hưởng bất lợi đến lợi nhuận ngân hàng từ những điều không chắc chắn. Các rủi ro phổ biến đối với các tổ chức tài chính gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, rủi ro tiền tệ, rủi ro lãi suất và rủi ro quốc gia. Theo cách phân loại của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, rủi ro ngân hàng có thể được chia thành ba loại chính: rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn chỉ phân tích rủi ro tín dụng, chi tiết sẽ được trình bày gồm các nội dung sau: khái niệm rủi ro tín dụng, phân loại rủi ro tín dụng, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng, đánh giá rủi ro tín dụng.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Valsamakis và các tác giả (2005) cho rằng, rủi ro tín dụng là rủi ro mà một hợp đồng tài chính sẽ không được thực hiện theo thỏa thuận.
Đó là rủi ro về lợi nhuận hoặc nguồn vốn do sự chậm trễ và không trả nợ đúng hạn của người vay. Rủi ro tín dụng phát sinh do các luồng tiền dự kiến từ các khoản vay và chứng khoán không được thanh toán đầy đủ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Rủi ro tín dụng được xem là rủi ro nguy hiểm nhất mà ngân hàng phải đối mặt (Cade, 1999). Theo Faure (2002), rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất mà ngân hàng phải đối mặt và có thể trở nên cực kỳ tốn kém không chỉ do sự mất mát vốn gốc mà còn mất thời gian và chi phí để lấy lại số tiền bị mất.
Theo Ngân hàng Nhà nước (2005), “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.2 Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rủi ro giao dịch phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng và giám sát khoản vay. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
Rủi ro danh mục phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 rủi ro cao.3 Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng 1.1 Nguyên nhân Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng rất đa dạng, có thể xét ở góc độ từ phía khách hàng vay, từ phía ngân hàng và từ những nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay Là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng. Như khả năng tự chủ tài chính kém, năng lực điều hành yếu, hệ thống quản trị kinh doanh không hiệu quả, trình độ quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ.
Cũng có thể do khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay ngân hàng. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều kiện cho vay. Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện vay và khả năng trả nợ. Đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và cá nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn rất yếu, nhất là đối với các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Mặc khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra, kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích nhưng ngân hàng không ngăn chặn kịp thời. Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng. Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng chưa đủ tầm và vấn đề quản lý, sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Nhóm nguyên nhân khách quan Là những tác động ngoài ý chí của khách hàng và ngân hàng như: thiên tai, hỏa hoạn, do sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch vùng, ngành, do hành lang pháp lý chưa phù hợp, do biến động thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi… khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được. Từ đó, doanh nghiệp dù cho có thiện chí nhưng vẫn không thể trả được nợ ngân hàng. Cần lưu ý rằng dù nguyên nhân từ phía khách hàng hay từ phía ngân hàng, nguyên nhân chủ quan hay khách quan đều dẫn đến hậu quả là khách hàng không trả được nợ. Tuy nhiên việc phân tích và phân định rõ ràng nguyên nhân sẽ giúp ngân hàng có biện pháp xử lý thích hợp trong từng tình huống cụ thể.2 Hậu quả của rủi ro tín dụng Đối với ngân hàng Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 điều này làm cho ngân hàng bị mất cân đối trong việc thu chi.
Khi không thu được nợ thì vòng quay của vốn tín dụng bị chậm lại làm ngân hàng kinh doanh không hiệu quả và có thể mất khả năng thanh khoản. Điều này làm giảm lòng tin của người gởi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng. Đối với nền kinh tế Hoạt động ngân hàng liên quan đến nhiều cá nhân, nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế, vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gởi tiền hoang mang lo sợ và ồ ạt kéo nhau đi rút tiền không chỉ ở ngân hàng đó mà còn ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp do không có tiền trả lương công nhân, mua nguyên vật liệu.
Lúc bấy giờ giá cả hàng hóa sẽ tăng, thất nghiệp tràn lan, xã hội mất ổn định, nền kinh tế lâm vào suy thoái. Rủi ro tín dụng có thể châm ngòi cho một cơn khủng hoảng tài chính ảnh hưởng đến cả khu vực và thế giới.4 Đánh giá rủi ro tín dụng Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng là: 1.1 Tỷ lệ nợ xấu oản oảng Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2009), về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận. Theo Ngân hàng Nhà nước (2005, 2007), nợ xấu (Non Performing Loan - NPL) của tổ chức tín dụng là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 theo cách phân loại như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Phân loại theo phƣơng pháp định lƣợng Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. Bao gồm: - Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; - Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; - Các khoản nợ trước đó đã được phân loại vào nhóm có rủi ro cao nhưng do khách hàng có cải thiện năng lực trả nợ nên được phân loại nợ về nhóm 1.
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; (Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn).