CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tiếp cận các nghiên cứu trên thế giới Trong phần này, người nghiên cứu trình bày những nghiên cứu thực nghiệm cùng kết quả nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới.1 Nghiên cứu của Larry D. Wall và Ifterkhar Hasan (2003) Bài nghiên cứu phân tích các yếu tố quyết định đến dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng, với mẫu nghiên cứu được lựa chọn từ các ngân hàng Mỹ và các ngân hàng ngoài nước Mỹ bao gồm Canada, Nhật và một nhóm 21 quốc gia. Tác giả sử dụng mô hình nhân tố tác động cố định (fixed effects) để xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến mức trích lâp dự phòng rủi ro tín dụng. Phương trình tính toán được tác giả sử dụng như sau: LLAit = 1 + 2NPLit+ 3NCOit + 4LOANit + 1ERi,t-1+ 2RETNit + 1Yit + uit Trong đó : NPLit: tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản tại thời điểm t NCOit: tỷ lệ giá trị tổn thất ròng cả năm t trên tổng tài sản tại thời điểm t LOANit: tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản tại thời điểm t ERi,t-1 : tỷ lệ vốn chủ trên tài sản cho ngân hàng i tại thời điểm kết thúc năm trước RETNit : tỷ lệ thu nhập trước thuế và dự phòng trên tổng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t Yit : biến tác động cố định theo năm được cho bằng 1 nếu quan sát bắt đầu từ năm t và bằng 0 nếu không phải.
Mô hình này được tác giả ứng dụng nghiên cứu cho các ngân hàng Mỹ (US banks) và những ngân hàng nước khác (non-US banks). Kết quả thể hiện các nhân tố đều được xác định là có ảnh hưởng đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nhưng có sự khác nhau về ý nghĩa thống kê giữa 2 khu vực. Cụ thể là các ngân hàng ở Mỹ có mức ý nghĩa thống kê thấp hơn các ngân hàng khác về LLA, NPL và NCO. Tương tự như vậy, tác giả tiếp tục so sánh giữa Mỹ với Nhật Bản và Canada để thể hiện mức độ tác động khác nhau của các nhân tố đối với mức trích lập dự phòng tại những quốc gia khác nhau.
Qua đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số biến theo suy nghĩ sẽ có tác động mạnh đối với ngân hàng nước này thì lại không phải là nhân tố quan trọng trong các ngân hàng nước khác.2 Nghiên cứu của Grace T. Chen và các cộng sự ( 2005) Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 200 ngân hàng trong giai đoạn 5 năm, từ năm 1995 đến 1999. Bài nghiên cứu nhận diện và kiểm tra mối quan hệ giữa các nhân tố và dự phòng rủi ro tín dụng. Kết quả nghiên cứu chứng minh tính hữu ích cho người sử dụng báo cáo tài chính ngân hàng trong việc đánh giá hoạt động của ngân hàng một cách đầy đủ hơn.
Nghiên cứu của nhóm tác giả đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trích lập dự phòng các khoản rủi ro tín dụng. Nhóm tác giả đã đưa ra được giả thuyết bao gồm các nhân tố tác động đến sự thay đổi mức trích lập dự phòng rủi ro như sau: Quy mô ngân hàng, các khoản nợ xấu, lãi suất cho vay, tỷ lệ cho vay của các khoản phi bất động sản trên bất động sản, tỷ lệ thu hồi nợ đã xóa, nợ ròng tổn thất trong kỳ. Mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc được tác giả kiểm tra bằng hai cách là sử dụng biểu đồ để trình bày và sử dụng phân tích hồi quy. Mô hình tác giả sử dụng cho nghiên cứu như sau: ALLit = A0t + A1tNPLit+ A2tNRE/REit + A3tINTit + A4tCHAOFFit + A5tSIZEit +A6tRECOVEit + et Trong đó: ALL: là biến phụ thuộc, đo lường bằng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng nợ NP: là tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ INT: là tỷ lệ thu nhập từ lãi cho vay trên tổng dư nợ cho vay bình quân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 NRE/RE: là tỷ lệ cho vay phi bất động sản trên bất động sản RECOV: là tổng thu hồi từ nợ đã xóa trên tổng nợ năm trước CHAOFF: tỷ lệ mất vốn bình quân ba năm trên tổng nợ bình quân ba năm SIZE: log của tổng tài sản Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả những nhân tố nghiên cứu đều thể hiện sự tác động đến tỷ lệ trích dự phòng rủi ro tín dụng ngoại trừ nhân tố quy mô ngân hàng là không có ý nghĩa thống kê.
Những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng cao thì sẽ có xu hướng tăng mức trích lập dự phòng rủi ro. Những khoản cho vay càng rủi ro thì lãi suất cho vay sẽ càng cao, dẫn đến lãi suất cho vay có tương quan thuận với mức dự phòng rủi ro. Các khoản cho vay bất động sản thì an toàn hơn là cho vay phi bất động sản, vì vậy tỷ lệ cho vay của các khoản phi bất động sản trên bất động sản tăng thì mức dự phòng sẽ tăng. Tỷ lệ thu hồi nợ đã xoá có tác động thuận chiều với mức lập dự phòng, khi tỷ lệ này tăng cao thì ngân hàng có xu hướng tăng mức trích lập dự phòng.
Kinh nghiệm về tổn thất cho vay trong ngân hàng cũng có mối tương quan thuận với dự phòng rủi ro, ngân hàng có càng nhiều kinh nghiệm về tổn thất trong quá khứ thì mức dự phòng sẽ cao hơn những ngân hàng ít kinh nghiệm.3 Nghiên cứu của Asokan Anvàarajan và các cộng sự (2005) Bằng cách thu thập đầy đủ các thông tin, báo cáo tài chính hàng năm của các ngân hàng thương mại Úc trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2001, với số lượng bao gồm 50 ngân hàng thương mại, trong đó có 10 ngân hàng niêm yết và 40 ngân hàng chưa niêm yết. Mục đích bài nghiên cứu nhằm xem xét việc liệu các ngân hàng Úc có sử dụng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong việc quản trị thu nhập, vốn và phát tín hiệu hay không, và nếu có thì mức độ chi phí dự phòng được sử dụng cho mục đích này là bao nhiêu. Tác giả sử dụng hồi quy OLS để phân tích mô hình sau: LLPR = a0 + a1ΔLLA + a2 ΔGDP + a3 MCAP + a4 EBT + a5 LISTED + a6 POST + a7 TA + a8 CFEER + a9 LISTED * MCAP + a10 LISTED * EBT + a11 MCAP * POST + a12 EBT*POST + a13 LISTED * MCAP * POST + a14 LISTED * EBT * POST TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Trong đó: LLPR: chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên dư nợ bình quân ΔLLA = Chênh lệch tổn thất cho vay/ tổng tài sản ΔGDP = Chênh lệch GDP, đại diện cho sự thay đổi trong tăng trưởng kinh tế MCAP = tỷ lệ vốn tự có trước dự phòng rủi ro tín dụng vốn bắt buộc tối thiểu EBT = thu nhập trước thuế và dự phòng/ tổng tài sản bình quân LISTED = Biến giả (là 1 nếu ngân hàng thương mại niêm yết; 0 nếu ngân hàng thương mại chưa niêm yết) POST = Biến giả (là 1 cho những năm sau Basel 1996-2001, và 0 cho những năm trước Basel 1991-1995) TA = log (tổng tài sản) CFEER = Thu nhập từ hoa hồng và phí trên tổng tài sản LISTED *MCAP = tương tác giữa loại ngân hàng thương mại với tỷ lệ an toàn vốn LISTED * EBT = tương tác giữa loại ngân hàng thương mại với thu nhập MCAP * POST = tương tác giữa tỷ lệ an toàn vốn với biến giả POST EBT * POST = tương tác giữa thu nhập với biến giả POST LISTED*MCAP*POST = Tương tác giữa loại ngân hàng thương mại với tỷ lệ an toàn vốn và biến giả POST LISTED*EBT * POST = Tương tác giữa loại ngân hàng thương mại với thu nhập và biến giả POST Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng tại Úc sử dụng dự phòng rủi ro để quản lý các khoản thu nhập, các ngân hàng thương mại niêm yết thực hiện nhiều hơn các ngân hàng thương mại không niêm yết. Đặc biệt hoạt động quản lý thu nhập là rõ rệt hơn sau khi thực hiện Hiệp ước Basel.
Tuy nhiên, bài nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ giữa dự phòng rủi ro và quản lý vốn. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu nhận thấy chi phí dự phòng rủi ro tín dụng không được xem trọng trong giai đoạn hậu Basel so với thời kỳ trước Basel. Điều này cho thấy rằng các báo cáo thu nhập có lẽ không phản ánh đúng thực tế sự kiện kinh tế phát sinh dưới những con số. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Nghiên cứu của Ruey-Dang Chang và các cộng sự (2008) Với nguồn dữ liệu được lấy từ các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Đài Loan trong giai đoạn từ năm 1996 đến 2004 với 164 quan sát.
Nhóm tác giả tiến hành điều tra mối quan hệ giữa dự phòng rủi ro tín dụng và 6 chỉ số về hiệu suất hoạt động của ngân hàng trong giai đoạn 1996 – 2004 dưới sự kiểm soát về loại hình ngân hàng, tình trạng sở hữu và quy mô tài sản. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng điều tra xem liệu các nhà quản lý ngân hàng có ý định sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng như một công cụ để quản lý thu nhập. Tác giả thực hiện hồi quy các biến thu nhập trước thuế và dự phòng, thu nhập năm sau, nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dự phòng nợ xấu và kiểm tra các giả thuyết thông qua mô hình sau: DLLPt=γ0 + γ1GOVERNt + γ2CATAt + γ3lnASSET +γ4BP_EARNt + γ5EARNt+1 + γ6BISt + γ7 R_NPL t+ γ8NPLt + γ9R_COVERt + εt Trong đó: DLLPt: chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong năm t GOVERNt: là biến giả (bằng 1 khi là ngân hàng nhà nước, ngược lại là 0) CATAt: là biến giả (bằng 1 khi là ngân hàng thương mại, ngược lại là 0) lnASSETt: log (tổng tài sản) BP_EARNt: thu nhập trước dự phòng EARNt+1: thu nhập năm sau BISt: tỷ lệ vốn (vốn của ngân hàng ít nhất bằng 8% rủi ro tín dụng) NPLt: tổng nợ xấu R_NPLt: tỷ lệ nợ xấu R_COVERt: tỷ lệ dự phòng nợ xấu (ví dụ:chi phí dự phòng trên tổng nợ xấu) t: năm Kết quả nghiên cứu chỉ ra BP_EARNt, EARNt+1, lnASSETt, NPLt là những biến có tương quan với DLLP với mức ý nghĩa 1%. Trong đó, BP_EARNt có tương quan thuận với DLLP cho thấy các nhà quản lý ngân hàng có xu hướng tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng nhằm xóa nợ xấu cũng như giảm tỷ lệ nợ xấu.
Thu nhập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.