đặt vấn đề và nêu ra tính cấp thiết của đề tài này. Đồng thời xác định mục tiêu, câu hỏi và phương pháp nghiên cứu cũng như chỉ ra được đóng góp của đề tài này. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Trong chương này hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về chất lượng cho vay tiêu dùng, các lý thuyết nền để luận giải cho ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng cho 8 vay tiêu dùng, lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Trong chương này nêu ra các bước để thực hiện nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Đồng thời, trình bày các phương pháp tính toán cũng như ý nghĩa của các hệ số tính toán. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này trình bày các nội dung bao gồm đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá cho các biến độc lập, phân tích hồi quy đa biến và kiểm định giả thuyết của mô hình, cuối cùng là thảo luận kết quả nghiên cứu. Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương này sẽ trình bày những đề xuất hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại Agribank Chi nhánh Nam Sài Gòn.
9 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về cho vay tiêu dùng 2. Khái niệm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là một hoạt động tất yếu hình thành do yêu cầu của nền kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề về việc người tiêu dùng có nhu cầu mua sắm vượt quá khả năng thanh toán hiện tại và người bán hàng luôn mong muốn tiêu thụ được hàng hóa. Chỉ có các tổ chức trung gian tài chính, đặc biệt là các NHTM, mới có đầy đủ khả năng trở thành cầu nối giải quyết vấn đề này.
Đây chính là tiền đề để hoạt động cho vay tiêu dùng hình thành và ngày càng phát triển. Theo Hồ Diệu (2001), cho vay tiêu dùng là một trong các hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, trong đó các khoản vay được cấp cho cá nhân, hộ gia đình bởi ngân hàng hoặc các công ty tài chính để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của khách hàng. Tùy vào từng đối tượng khách hàng, mục đích vay, mức cho vay hay thời hạn cho vay, mà tổ chức tín dụng có thể cho vay tiêu dùng có hoặc không có tài sản bảo đảm. Hiện nay, cho vay tiêu dùng thường được khách hàng cá nhân, hộ gia đình sử dụng để tài trợ cho các chi phí như mua nhà, mua xe ôtô để phục vụ đi lại, giáo dục, y tế, du lịch… Theo Lê Văn Tư (2005), thì cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình.
Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như: nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế,. trước khi họ có đủ khả năng tài chính để hưởng thụ. Theo nhận định của tác giả thì cho vay tiêu dùng là khoản vay nhằm phục vụ cho nhu cầu đời sống, được cấp cho đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình nhằm mục đích sinh hoạt, chi tiêu, hình thành nên tài sản trong gia đình như: mua nhà 10 để ở, đất để ở, phương tiện đi lại, học tập, du lịch, y tế…Mục đích sử dụng tiền vay đối với những khoản cho vay tiêu dùng không làm phát sinh doanh thu, nguồn tiền trả nợ của khoản vay này không lấy từ việc sử dụng vốn vay để kinh doanh, tạo ra nguồn thu để trả nợ nên đây là điểm để phân biệt so với những khoản vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng 2.
Số lượng các khoản vay lớn, quy mô mỗi khoản vay nhỏ Theo Nguyễn Đăng Dờn (2011), khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng đối với mục đích tiêu dùng thì chủ yếu xoay quanh mục đích đáp ứng được nhu cầu vốn tiêu dùng. Khoản vay này chủ yếu cho mục đích phục vụ trực tiếp cho chi tiêu trong cuộc sống như mua đất đai, bất động sản; mua sắm vật dụng trong gia đình; sữa chữa nhà cửa; nhu cầu cho con cái đi du học;.Số lượng khoản tín dụng cá nhân rất lớn do hai nguyên nhân: * Đối tượng là khách hàng cá nhân rất lớn do đối tượng và loại hình vay này là mọi cá nhân trong xã hội từ những người có thu nhập trung bình, thấp đến thu nhập cao. * Nhu cầu tín dụng đa dạng và phong phú theo các mục đích vay của khách hàng, vì chất lượng cuộc sống và dân trí ngày càng được nâng cao thì nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống của mình càng tăng. Các nhân tố trình độ học vấn và mức thu nhập đều có ảnh hưởng rõ rệt đến hạn mức vay.
Những người có mức thu nhập cao hơn mức bình quân thường có xu hướng vay mức cao hơn tổng thu nhập hằng năm của họ. Những người có trình độ học vấn cao (thông thường là những người có nhiều năm đào tạo ở bậc trên phổ thông đồng thời là trụ cột gia đình) thường quyết định vay tiền trên cơ sở cân nhắc kĩ lưỡng thu nhập của mình. Đối với trường hợp này, món vay được coi như phương tiện để đạt 11 được mức sống như mong muốn hơn là một cơ sở an toàn trong những trường hợp khẩn cấp. Cho vay tiêu dùng thường có tài sản đảm bảo.
Lãi suất cho vay tiêu dùng thường không thay đổi dưới những tác động của những điều kiện từ môi trường bên ngoài trong suốt thời hạn vay như trong trường hợp cho vay đối với các doanh nghiệp. Các khoản cho vay tiêu dùng có xu hướng nhạy cảm trước các tác động của chu kì kinh tế. Trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế, người tiêu dùng thường có cái nhìn lạc quan về tương lai vì vậy họ thường chi tiêu nhiều hơn. Trong giai đoạn kinh tế suy thoái thì các cá nhân và hộ gia đình thường có cái nhìn bi quan về tương lai đặc biệt là khi họ cảm thấy nạn thất nghiệp gia tăng và ngay lập tức cắt giảm nhu cầu vay ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng thường có những rủi ro về thông tin bất cân xứng và rủi ro tác nghiệp Theo Phan Thị Thu Hà (2013), thì đối với hình thức cho vay tiêu dùng thì các NHTM thường sẽ gặp các rủi ro như sau: Rủi thông do tin bất cân xứng: Đối với hình thức cho vay tiêu dùng thì thông tin khách hàng được xem là một trong những nhân tố rất quan trọng để ngân hàng ra quyết định cho vay bên cạnh tính hợp lý về nhu cầu, khả năng thanh toán đến hạn và tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, đối với hình thức tín dụng này, việc đánh giá nhân thân, nguồn tiền trả nợ thường khó có thể đầy đủ, chính xác, rõ ràng dẫn đến thông tin bất cân xứng làm cho việc thẩm định khách hàng vẫn chưa chính xác. Mặt khác, rủi ro còn nằm ở chỗ là nguồn trả nợ của cá nhân chủ yếu đến từ nguồn thu nhập đều đặn tại thời điểm hiện tại. Nhưng trong quá trình phát sinh quan hệ tín dụng với ngân hàng, khách hàng gặp những vấn đề liên quan đến sức khỏe, mất việc hay những biến cố bất ngờ mang tính khách quan không lường trước được thì ảnh hưởng đến thu nhập và nguồn trả nợ cho ngân hàng.
12 Rủi ro tác nghiệp: Do đặc điểm tín dụng là mỗi khoản vay có giá trị nhỏ nhưng số lượng hồ sơ của các khoản vay là rất nhiều, vì vậy để đáp ứng được tất cả nhu cầu của khách hàng đòi hỏi sự nhanh chóng trong việc giải quyết hồ sơ khách hàng của cán bộ tín dụng. Vì vậy, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàng thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý hoặc sơ hở của những quy định để lừa đảo khách hàng hoặc thông đồng với khách hàng gây tổn thất cho ngân hàng. Đối với cho vay tín chấp thì rủi ro này còn cao hơn rất nhiều, vì cơ sở cấp tín dụng cho khách hàng chủ yếu là thẩm định dựa trên uy tín, nhân thân khách hàng tốt hay xấu chứ không phải dựa trên tài sản đảm bảo thế chấp. Gây tốn kém nhiều chi phí: Với đặc điểm khách hàng cá nhân số lượng nhiều, địa điểm sống phân tán, vì vậy để duy trì và phát triển cho vay tiêu dùng không những tốn kém về mặt thời gian mà còn về mặt chi phí bởi những công tác sau: - Để tạo thuận lợi cho việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở nhiều địa bàn, địa điểm, khu vực thì cần mở rộng mạng lưới, tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị.
- Hoạt động phát triển nguồn nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ đầy đủ, kịp thời tất cả nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác từ khâu nhận hồ sơ đến khâu thẩm định, quyết định cho vay và thu hồi nợ. - Thông tin khách hàng đôi khi bất cân xứng do vậy ngân hàng phải tiến hành rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ bước tiếp nhận hồ sơ đầu tiên, thẩm định, chấm điểm xếp hạng khách hàng, giải ngân và thu hồi nợ. - Các chi phí phát sinh liên quan như: chi phí quản lý; văn phòng phẩm; điện nước; điện thoại; công tác phí cho cán bộ tín dụng. Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao: Xuất phát từ nhân tố rủi ro cao và chi phí ngân hàng phải bỏ ra lớn hơn các phương thức cho vay khác, vì vậy, lãi suất cho 13 vay tiêu dùng thường cao hơn so với cho vay sản xuất kinh doanh.
Từ đó, mức lợi nhuận thu được tính trên cân đối đầu ra-đầu vào do chênh lệch lãi suất sẽ cao, cộng với số lượng các khoản vay lớn nên tổng thu nhập mang về từ tín dụng tiêu dùng là đáng kể trong tổng thu nhập của ngân hàng. Vai trò của cho vay tiêu dùng Đối với ngƣời tiêu dùng: Được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt là đối với các khoản chi tiêu có tính cấp bách như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục và y tế.