Chương 1. Lý luận tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp sử dụng thẻ ngân hàng thương mại. Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận sử dụng thẻ của Ngân hàng TMCP Kiên Long. Giải pháp khuyến khích khách hàng chấp nhận sử dụng thẻ của ngân hàng TMCP Kiên Long.
Ý nghĩa của luận văn nghiên cứu – Ý nghĩa khoa học: Bổ sung vào cơ sở lý luận các nghiên cứu về sự chấp nhận sử dụng thẻ ở những Quốc gia mà thị trường thanh toán phi tiền mặt còn kém phát triển như thị trường Việt Nam. – Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu này là loại nghiên cứu nhằm kiểm định lại và mở rộng mô hình UTAUT nhằm phát hiện các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận sử dụng thẻ của ngân hàng phù hợp với tình hình thực tại của Việt Nam, cụ thể là với ngân hàng TMCP Kiên Long. Kết quả cuối cùng của nghiên cứu này sẽ mang đến sự hiểu biết sâu sắc về nguyên nhân ảnh hưởng đến sự chấp nhận sử dụng thẻ của khách hàng và giúp cho ngân hàng hoạch định chiến lược đúng đắn để tập trung phát triển TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình thức thanh toán này cho ngân hàng TMCP Kiên Long nói riêng và thị trường Việt Nam nói chung. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 Chƣơng 1.
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ CHẤP NHẬN SỬ DỤNG THẺ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về thẻ ngân hàng 1. Khái niệm thẻ ngân hàng Thẻ là phương tiện thanh toán cho phép chủ thẻ sử dụng để chi trả cho hàng hóa, dịch vụ tại đơn vị chấp nhận thẻ, thanh toán từ xa (giao dịch không xuất trình thẻ) hoặc để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATMs) (Kokkola, 2010, trang 31). Thông thường chức năng thanh toán và chức năng sử dụng tiền mặt được kết hợp trong cùng một chiếc thẻ.
Thẻ được sử dụng để thực hiện các giao dịch bằng cách ghi nợ từ tài khoản chủ thẻ hoặc giảm bớt hạn mức tín dụng được phép sử dụng của chủ thẻ tại ngân hàng phát hành (Kokkola, 2010, trang 31). Theo đó, thẻ ngân hàng là một sản phẩm tiện ích của các ngân hàng. Thẻ ngân hàng có nhiều khái niệm khác nhau: Khái niệm 1: Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán hiện đại, cho phép khách hàng có thể sử dụng các dịch vụ ngân hàng chỉ với một chiếc thẻ được phát hành bởi ngân hàng đó mà không gặp bất cứ hạn chế nào về thời gian giao dịch (Patil, 2014, trang 226); hay Khái niệm 2: Thẻ ngân hàng là một chiếc thẻ nhựa giúp chủ thẻ tiếp cận tiền từ tài khoản của mình tại ngân hàng và sử dụng để thanh toán hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động. Trong một số trường hợp, thẻ còn được sử dụng qua Internet, với những trường hợp này thẻ được sử dụng để giao dịch không còn là một chiếc thẻ vật chất (Kalam et al.
Theo quan điểm của tác giả thì ngày nay cùng với sự phát triển của công nghệ hiện đại. Thẻ không chỉ gói gọn trong chức năng rút tiền mặt, thanh toán hàng hóa, dịch vụ hay sử dụng qua Internet như Kalam et al. Với nhu cầu ngày càng gia tăng, thẻ còn được sử dụng để nộp tiền qua máy ATM, thanh toán hóa đơn, thanh toán dư nợ tín dụng, tích điểm… Như vậy, có thể hiểu thẻ ngân hàng là một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 phương tiện hiện đại, cho phép chủ thẻ chủ động theo dõi, tiếp cận và sử dụng nguồn tài chính của mình tại ngân hàng thông qua các dịch vụ do ngân hàng cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình mà không phải trực tiếp đến ngân hàng. Thẻ còn giúp cho chủ thẻ thanh toán hàng hóa, dịch vụ một cách nhanh chóng, an toàn, và chính xác.
Phân loại thẻ Có nhiều loại thẻ khác nhau cho phép khách hàng tiếp cận và sử dụng tiền từ tài khoản của mình. Tùy thuộc vào tiêu thức phân loại mà thẻ được phân ra nhiều loại khác nhau, tuy nhiên nhìn chung có 3 loại thẻ được sử dụng phổ biến đó là thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và thẻ trả trước 1. Thẻ ghi nợ (debit card): Thẻ kết nối trực tiếp với tài khoản ngân hàng, cho phép chủ thẻ thanh toán các khoản mua hàng hoăc rút tiền tại các máy ATM trực tiếp từ tài khoản của mình. Vì vậy, khi chủ thẻ sử dụng thẻ ghi nợ, số tiền được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ ngay lập tức hoặc sau vài ngày (delayed debit card) và không có bất cứ sự trì hoãn thanh toán nào (Kokkola, 2010, trang 31).
Thẻ tín dụng (credit card): cung cấp cho chủ thẻ một nguồn tín dụng được phép sử dụng và không phải hoàn trả ngay. Hạn mức và thời gian được cấp tín dụng tùy thuộc vào thỏa thuận của chủ thẻ và ngân hàng phát hành. Nhìn chung, dư nợ tín dụng có thể được thanh toán toàn bộ vào ngày đến hạn hoặc được thanh toán từng phần (Kokkola, 2010, trang 31). Thẻ tín dụng cho phép chủ thẻ có thể trả một phần dư nợ cuối kỳ vào ngày đến hạn để đảm bảo khả năng chi trả (Kokkola, 2010, trang 31).
Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ dư nợ vào ngày đến hạn, chủ thẻ hoàn toàn được miễn lãi đối với số dư nợ đã sử dụng. Sau thời gian này, phần dư nợ cuối kỳ chưa được thanh toán sẽ chịu lãi suất (Patil, 2014, trang 227). Loại này gọi là thẻ tín dụng tuần hoàn (Revolving credit card) 1. 1 European Central Bank (2014), Card payments in Europe - A reviewed focus on SEPA for cards.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Thẻ tín dụng buộc chủ thẻ phải thanh toán toàn bộ dư nợ phát sinh cho ngân hàng vào ngày đến hạn. Loại thẻ này còn được gọi là thẻ chi trả (charge card) (Patil, 2014, trang 227). Thẻ trả trước: Là thẻ đòi hỏi chủ thẻ nạp một số tiền nhất định trong thẻ trước khi có thể sử dụng. Thẻ trả trước có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán.
Cần phân biệt giữa thẻ trả trước và ví điện tử (electronic purse). Đối với ví điện tử, tiền điện tử được lưu trữ trong chip điện tử của thẻ hoặc các trung tâm dữ liệu và được khấu trừ trực tiếp khi thanh toán 1. Ngoài ra, còn có các loại thẻ khác như: Căn cứ vào phạm vi sử dụng: Bao gồm thẻ nội địa và thẻ quốc tế Thẻ nội địa: là thẻ được sử dụng để rút tiền, thanh toán, chuyển khoản cho các giao dịch thanh toán trong nước. Thẻ quốc tế: là thẻ được sử dụng để rút tiền, thanh toán, chuyển khoản cho các giao dịch thanh toán nước ngoài (Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc, 2011, trang 241).
Căn cứ vào chủ thể phát hành: Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ được phát hành bởi các ngân hàng. Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ do các tổ chức quốc tế phát hành như: Dinner Club, Amex,… loại thẻ này cũng được sử dụng thanh toán trên toàn cầu (Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc, 2011, trang 242). Căn cứ vào đặc điểm kỹ thuật của thẻ: Bao gồm ba loại là thẻ khắc chữ nổi, thẻ băng từ và thẻ thông minh (Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc, 2011, trang 242). Trong đó, thẻ thông minh (smart card) là thế hệ mới nhất của thẻ.
Thẻ thông minh được gắn vào thẻ một chip điện tử, cho phép lưu trữ thông tin gấp hàng ngàn lần so với thẻ từ, thêm vào đó mức độ an toàn cao, đáng tin cậy và đa đạng về chức năng, dịch vụ cung cấp cũng được tích hợp vào thẻ (Angko, 2013, trang 46). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các đối tƣợng chính tham gia trong quá trình sử dụng thẻ Thẻ được sử dụng để thanh toán tại các cơ sở chấp nhận thẻ, để nộp, rút tiền mặt hoặc thanh toán, chuyển khoản tại các máy ATM. Trong quá trình sử dụng thẻ có nhiều bên tham gia, tuy nhiên khái quát chung thì có hai mô hình tổng quát (Kokkola, 2010, trang 56), trong đó mô hình 4 thành phần là mô hình phổ biến 1.1 Mô hình các đối tượng chính tham gia trong quá trình sử dụng thẻ Mô hình 3 thành phần Mô hình 4 thành phần Chuẩn giao tiếp dữ liệu Chuẩn giao tiếp dữ liệu Đóng vai trò phát hành và thanh toán Ngân hàng Ngân hàng phát hành thanh toán Chủ thẻ Đại lý Chủ thẻ Đại lý (ĐVCNT) (ĐVCNT) (Nguồn: European Central Bank, 2014) Trong mô hình 4 thành phần, chuẩn giao tiếp và xử lý dữ liệu được áp dụng thống nhất cho cả ngân hàng phát hành và ngân hàng thanh toán thẻ.
Tùy theo vai trò trong hoạt động thanh toán, ngân hàng phát hành có mối quan hệ pháp lý với chủ thẻ và hỗ trợ chủ thẻ sử dụng thẻ, tương tự ngân hàng thanh toán cũng có mối quan hệ pháp lý với ĐVCNT và hỗ trợ hoạt động thanh toán cho ĐVCNT 1. Trong một số trường hợp, ngân hàng phát hành đồng thời cũng là ngân hàng thanh toán, trường hợp này là khi khách hàng của ngân hàng phát hành sử dụng thẻ trên chính kênh giao dịch của ngân hàng đó (Slawsky & Zafar, 2005, trang 15). Ngược lại, trong mô hình 3 thành phần, một bên vừa đóng vài trò là bên phát hành và bên thanh toán thẻ, có mối quan hệ pháp lý với cả chủ thẻ và ĐVCNT. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa hai mô hình (Kokkola, 2010, trang 56).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Một số mô hình sử dụng, thanh toán thẻ với 3 thành phần tham gia như American Express, Diner Club hoặc một số tổ chức tín dụng trong nước khác; trong khi đó sử dụng mô hình 4 thành phần như Visa, MasterCard và một số tổ chức thẻ trong nước khác. 1 Ngân hàng phát hành thẻ: là tổ chức tài chính phát hành thẻ cho chủ thẻ, đồng thời cũng quản lý tài khoản của chủ thẻ và có thể cung cấp hạn mức tín dụng cho chủ thẻ. Ngân hàng phát hành thẻ thực hiện cấp phép các giao dịch qua POS hoặc ATM và cam kết chắc chắn thanh toán lại cho bên chấp nhận thanh toán thẻ giá trị của những giao dịch thành công, phù hợp với quy định thống nhất (Kokkola, 2010, trang 55). Ngân hàng thanh toán thẻ: thực hiện quản lý tài khoản của ĐVCNT và thanh toán với tư cách của ĐVCNT.
Ngân hàng thanh toán chuyển tiếp các thông tin về kết quả giao dịch thẻ để nhận được tiền đã thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ.