CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới Từ 5 trường hợp tử vong do AIDS đầu tiên được Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention, viết tắt là CDC) phát hiện vào năm 1981 tại Mỹ, số người nhiễm trên thế giới đã không ngừng gia tăng và lan rộng khắp các châu lục, tạo thành đại dịch toàn cầu. Theo số liệu báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, tính đến cuối năm 2011, trên toàn cầu có khoảng 34 triệu người đang sống chung với HIV/AIDS, 1,7 triệu người chết vì các bệnh liên quan đến AIDS, hầu hết là ở những quốc gia có thu nhập trung bình và thấp.
Tuy nhiên, với những nổ lực không ngừng nghỉ của toàn thế giới nhằm khống chế đại dịch trong hơn 30 năm qua, hiện nay số ca nhiễm mới trên toàn thế giới đang có chiều hướng giảm. Trong số 33 quốc gia có tỉ lệ nhiễm mới giảm trên 25% (từ năm 2001-2009), có 22 quốc gia thuộc khu vực cận Sahara Châu Phi. Dịch nặng nhất ở Ethiopia, Nigeria, Nam Phi, Zambia và Zimbabwe cũng có dấu hiệu suy giảm. Tuy nhiên, có một vài vùng và quốc gia không theo xu hướng này, trong 7 nước có 5 nước thuộc Đông Âu và Trung Á [38].
- Châu Phi: Cận Sahara Châu Phi là khu vực chịu ảnh hưởng của đại dịch HIV/AIDS nặng nề nhất trên thế giới. Theo ước tính có khoảng 22,9 triệu người đang sống chung với HIV, chiếm 2/3 số người nhiễm toàn cầu. Trong năm 2010, có khoảng 1,2 triệu người chết vì AIDS và 1,9 triệu người bị nhiễm HIV. Từ đầu dịch đến nay đã có 14,8 triệu đứa trẻ bị mất cha mẹ do HIV/AIDS [33].
Một số nước trong khu vực đã thực hiện các chiến dịch quốc gia để khuyến khích hoạt động TVXNTN. Botswana, Kenya, Uganda, Malawi và Rwanda là một trong số những quốc gia đã tiến hành thử nghiệm các chiến dịch tăng số người được TVXNTN trong năm 2010, cụ thể ở Kenya với gần 6 triệu người ở độ tuổi trên 15 nhận được được dịch vụ này vào năm 2010. Tại các nước Châu Phi như Kenya, Malawi, Mozambique, Namibia, Nigeria và Zambia, tỷ lệ lây truyền HIV qua quan hệ tình dục tăng do yếu tố không sử dụng bao cao su và vấn đề đặt ra là cần thiết phải tăng cường hỗ trợ cho những nỗ lực thay đổi hành vi. Năm 2010, trong số 31 quốc gia có bệnh dịch phổ biến thì có 26 quốc gia tiến hành các cuộc điều tra về kiến thức liên quan đến HIV/AIDS và phát hiện ra rằng dưới 50% phụ nữ trẻ có kiến thức toàn diện và chính xác về HIV/AIDS, đặc biệt thiếu kiến thức về tác dụng của bao cao 15 su trong phòng ngừa lây nhiễm HIV.
Bên cạnh đó, những người đàn ông trẻ cũng có ít hơn 50% kiến thức toàn diện và chính xác về HIV/AIDS [33] - Châu Á: Tại Châu Á, ước tính có 4,9 triệu người đang sống chung với HIV vào năm 2009. Hầu hết các quốc gia có dịch HIV với hình thái ổn định. Ở nhiều quốc gia trong vùng, dịch chỉ tập trung chủ yếu ở một số tỉnh/thành. Tại Trung Quốc, số người nhiễm của 5 tỉnh cộng lại chiếm hơn phân nửa (53%) số người nhiễm trên toàn quốc.
Tỉnh Papua của Indonesia có số người nhiễm cao gấp 15 lần số trung bình của cả nước [38]. Phần lớn người nhiễm HIV trong vùng tập trung ở 11 quốc gia: Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Nepal, Pakistan, Papua New Guinea, Thái Lan và Việt Nam. Dịch ở Châu Á vẫn tập trung chủ yếu ở người tiêm chích ma túy, mại dâm và MSM. Ở một vài quốc gia, người tiêm chích ma túy cũng là người mua dâm hay bán dâm [38].
Thái Lan là nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch với gần 1 triệu người nhiễm chủ yếu qua quan hệ tình dục không an toàn gắn liền với công nghệ du lịch tình dục. Khởi đầu dịch bùng phát trên gái mại dâm (tỷ lệ nhiễm lên đến 18%, tại Bắc Thái 40%) và nhanh chóng lan tỏa trong cộng đồng dân cư bình thường. Nhưng với quyết tâm hành động mạnh mẽ từ chính phủ, chương trình 100% bao cao su (BCS) đã được triển khai thành công trong ngành công nghiệp mại dâm trực tiếp, tỉ lệ sử dụng BCS trong hoạt động mại dâm tăng từ 15% lên trên 90% sau 5 năm triển khai chương trình và họ đã đẩy lùi đại dịch HIV một cách ngoạn mục nhất khu vực [36]. Myanmar đã chứng kiến sự gia tăng đáng lo ngại của HIV/AIDS.
Năm 2003, Bộ Y tế nước này ước tính cả nước có 177.279 người sống chung với AIDS, 67% số ca nhiễm là thông qua quan hệ tình dục khác giới, 30% là người tiêm chích ma túy. Chính phủ đã đẩy mạnh chương trình 100% BCS, các cuộc khảo sát cho thấy tỉ lệ sử dụng BCS đã gia tăng từ 60% lên 90% và các tỉ lệ nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục đều giảm xuống [39]. Ngoài ra, một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhận thức về HIV/AIDS có thể kể đến như sau: Năm 2002, Iran đã tiến hành một nghiên cứu trên đối tượng là học sinh trung học ở Iran với số lượng 4.641 người để đánh giá kiến thức và thái độ của học sinh về HIV/AIDS. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ có một vài học sinh đã trả lời tất cả các câu hỏi kiến thức một cách chính xác, và có rất nhiều quan niệm sai lầm về đường lây truyền như muỗi đốt (33%), bể bơi công cộng (21%), và vệ sinh công cộng (20%)[4].
16 Một nghiên cứu tại tỉnh Andhra Pradesh, Ấn Độ liên quan đến nhận thức của phụ nữ mại dâm (PNMD) năm 2007 chỉ ra rằng 73,3% người có kiến thức đúng về xét nghiệm HIV, 37,3% người biết muỗi cắn không lây, 97,9% người trả lời đúng sử dụng bao cao su để phòng ngừa HIV khi quan hệ tình dục, 97,7% người biết phải sử dụng bơm kim tiêm riêng khi tiêm chích ma túy [35]. Theo một nghiên cứu tại tỉnh Shandong, Trung Quốc năm 2009 liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi về HIV của PNMD cho thấy có đến 50% PNMD không sử dụng BCS thường xuyên với khách hàng, kiến thức về HIV/AIDS và hành vi sử dụng BCS có liên quan với trình độ học vấn [41] Một nghiên cứu khác về kiến thức, thái độ, hành vi tại Haiti trên đối tượng PNMD, độ tuổi trung bình trong mẫu nghiên cứu là 27 tuổi, 80% có trình độ cấp 1 hoặc cấp 2. Kiến thức về đường lây truyền: 100% PNMD có kiến thức đúng về sử dụng bơm kim tiêm và 100% PNMD có kiến thức đúng về việc một người trông khỏe mạnh vẫn có thể lây HIV nhưng chỉ có 20% người trả lời đúng không lây truyền HIV khi ăn uống chung với người nhiễm. Về thái độ: 71% có thái độ kỳ thị người nhiễm.
Kết quả cũng cho thấy tại Haiti, PNMD có kiến thức về việc sử dụng BCS trong quan hệ tình dục cao nhưng thực hành lại rất thấp do tính sẵn có của BCS không cao [5]. Tóm lại, thông qua một số nghiên cứu như đã nêu trên, phần lớn các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến HIV/AIDS chủ yếu tập trung vào các nhóm nguy cơ cao dễ lây nhiễm HIV như mại dâm, ma tuý và được tài trợ bởi các tổ chức quốc tế. Vậy các nghiên cứu về HIV/AIDS tại Việt Nam như thế nào? 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam Tại Việt Nam, tính đến hết năm 2012 cả nước có 210.703 người nhiễm HIV hiện còn sống, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 61.372 người tử vong do AIDS, tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc là 239 người trên 100.
Toàn quốc đã phát hiện được người nhiễm HIV ở 79,1% xã/phường/thị trấn,98% quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành. Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là địa phương có tổng số người nhiễm cao nhất, chiếm gần 1/3 số người nhiễm được phát hiện trên toàn quốc [13]. Tính đến hết tháng 5 năm 2013, phân bố người nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi từ 20-39 tuổi, chiếm khoảng 78,6% số người nhiễm HIV trên địa bàn cả nước. Nếu trước đây, Việt Nam có tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện lây truyền qua đường máu mà chủ yếu ở nhóm người nghiện chích ma túy cao nhất thì đây là năm đầu tiên báo cáo cho biết tỷ lệ người nhiễm HIV được 17 phát hiện lây truyền qua đường tình dục ngày càng gia tăng, lây truyền qua đường máu có xu hướng giảm dần [12].
Bên cạnh đó, tại TP.HCM, dịch đã có xu hướng phát triển ra cộng đồng dân cư nói chung chứ không còn quá tập trung vào nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao. Số người nhiễm HIV giảm nhưng vẫn còn ở mức 4.000 trường hợp nhiễm mới mỗi năm [27]. Tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2013, thành phố hiện có 57.876 người nhiễm HIV, 32.527 người chuyển sang giai đoạn AIDS và 9.755 người tử vong [31]. Sau hơn 20 năm đấu tranh chống lại đại dịch, TP.HCM đã ứng phó với dịch bằng việc thực hiện nhiều chương trình hành động trên quy mô toàn thành như Chương trình thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng lây nhiễm HIV/AIDS; Chương trình can thiệp giảm tác hại; Chương trình hỗ trợ điều trị cai nghiện ma túy, điều trị thay thế bằng Methadone và tái hòa nhập cộng đồng; Chương trình tham vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện; Chương trình phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; Chương trình chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm; Chương trình chăm sóc, điều trị bệnh nhân HIV/AIDS; Chương trình theo dõi, giám sát và đánh giá.
Mỗi chương trình có một mục đích, phương pháp, đối tượng can thiệp cụ thể nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là khống chế tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư dưới 1% vào năm 2015 và không tăng sau năm 2015, khống chế tỷ lệ nhiễm HIV mới trong cộng đồng dân cư dưới 0,08% vào năm 2015, góp phần giảm tác hại của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế của xã hội [27]. Cụ thể, năm 1993, nhiều mô hình truyền thông về phòng chống HIV/AIDS ra đời và được nhân rộng trên cả nước như mô hình cà phê bao cao su, mô hình giáo dục phòng chống HIV/AIDS trong trường học, mô hình phòng chống HIV/AIDS tại nơi làm việc. Cũng trong thời gian này, TP.