Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về nhiễm khuẩn đường sinh sản 1.1 Khái niệm về các thuật ngữ 1.1 Nhiễm khuẩn đường sinh sản Nhiễm khuẩn đường sinh sản là một thuật ngữ rộng bao gồm các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và các nhiễm khuẩn khác không lây truyền qua đường tình dục. Đa số các NKĐSS đều để lại hậu quả nặng nề về sức khỏe hơn so với nhiễm trùng đường sinh sản. Các NKĐSS gây ra bởi vi sinh vật thường có mặt tại đường sinh sản hoặc do vi sinh vật từ bên ngoài vào thông qua hoạt động tình dục hoặc qua các thủ thuật y tế [44] [33]. Không phải tất cả cácNKĐSS đều là các NKLTQĐTDvà cũng không phải tất cả các NKĐSS đều có thể lây qua đường tình dục.
NKĐSS nói đến cách thức lây truyền trong khi đó NKQĐTDlại đề cập đến vị trí nơi các nhiễm khuẩn tiến triển. Nhiễm khuẩn đường sinh sản gồm ba loại: 1) Các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục như nhiễm Chlamydia, bệnh lậu, trùng roi sinh dục, bệnh giang mai, bệnh hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào gà sinh dục. 2) Nhiễm khuẩn nội sinh do tăng sinh quá mức các vi sinh vật có trong âm đạo của phụ nữ như viêm âm đạo do vi khuẩn và viêm âm hộ - âm đạo do nấm men. 3) Nhiễm khuẩn y sinh là các nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không vô khuẩn[45].2 Tiếp cận hội chứng Tiếp cận hội chứng là phương pháp dựa vào các nhóm dấu hiệu hoặc nhóm triệu chứng để xác định các căn nguyên và điều trị NKĐSS.
Phương pháp này chỉ áp dụng ở tuyến cộng đồng, vì ở tuyến này không có hệ thống xét nghiệm. Mỗi hội chứng do các nhóm căn nguyên khác nhau gây nên. Hội chứng tiết dịch âm đạo thường do lậu cầu, chlamydia, trichomonas gây nên, hội chứng loét sinh dục do giang mai, herpes… Vì 5 vậy cần phải điều trị tất cả các căn nguyên có liên quan. Tiếp cận hội chứng với mục đích là đến dịch vụ y tế sớm nhất đến người bệnh ở tuyến cộng đồng trong điều kiện không có các trang thiết bị để chẩn đoán.
Hơn nữa qua phương pháp này người thầy thuốc cũng giáo dục y tế cho người bệnh về an toàn tình dục, sức khỏe sinh sản và phòng, chống các bệnh LTQĐTD, HIV/AIDS. Như vậy với tiếp cận hội chứng người bệnh sẽ được điều trị sớm, tránh được biến chứng và họ cũng sẽ hiểu được các phương pháp phòng bệnh. Tuy nhiên vì phải điều trị nhiều căn nguyên nên phương pháp này tốn kém và mất thời gian. Quan hệ tình dục đồng giới (Homosexual) Quan quan hệ tình dục cùng giới nam hay cùng giới nữ.
Đây là đường rất dễ lây nhiễm HIV cũng như các NKĐSS. Quan hệ tình dục khác giới (Heterosexual) Quan hệ tình dục thông thường giữa nam và nữ, nhưng nếu không được bảo vệ an toàn cũng bị nhiễm các NKĐSS và HIV. Quan hệ tình dục lưỡng giới (Bisexual) Một người có quan hệ tình dục với cả hai giới nam và nữ.2 Nguyên nhân gây bệnh NKĐSS NK LTQĐTD: do các tác nhân là vi khuẩn, vi rút, đơn bào, nấm, ký sinh vật gây nên là lây truyền từ người này sang người khác qua quan hệ tình dục. Hầu hết các vi khuẩn, đơn bào, nấm và các ký sinh vật có thể bị diệt bởi các thuốc điều trị hiệu quả Trái lại, các vi rút hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy chúng tồn tại trong cơ thể một thời gian dài hoặc suốt đời [11].
Nhiễm khuẩn nội sinh: Vi sinh vật thường có ở âm đạo như nhiễm nấm men, viêm âm đạo do vi khuẩn. Nhiễm khuẩn y sinh: là các nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không vô khuẩn[49].3 Các hội chứng thường gặp khi mắc NKĐSS 6 1. Hội chứng tiết dịch âm đạo Hội chứng tiết dịch âm đạo là một hội chứng lâm sàng thường gặp mà người bệnh than phiền là có dịch âm đạo (khí hư) và kèm theo một số triệu chứng khác như ngứa, đau rát ở vùng sinh dục, đái khó, đau khi giao hợp.và nếu không điều trị có thể gây biến chứng như viêm tiểu khung, vô sinh, thai ngoài tử cung, nhất là đối với lậu và Chlamydia. Mọi trường hợp viêm âm hộ, viêm âm đạo, viêm âm hộ - âm đạo và viêm cổ tử cung đều đưa đến tiết dịch âm đạo.
Về điều trị nếu xác định được nguyên nhân thì điều trị nguyên nhân, nếu không thì điều trị theo hội chứng. Đối với mọi trường hợp tiết dịch âm đạo, CBYT cần xác định và điều trị cho các bạn tình, trừ trường hợp viêm âm đạo do nấm hoặc vi khuẩn. Mọi trường hợp mắc hội chứng tiết dịch âm đạo đều cần được thông tin và tư vấn về hành vi tình dục an toàn [32].2 Hội chứng tiết dịch niệu đạo Hội chứng tiết dịch niệu đạo gồm có dịch mủ chảy từ niệu đạo kèm theo các triệu chứng khác như đái buốt, đái khó. Nếu không điều trị kịp thời có thể lây cho bạn tình và để lại biến chứng như viêm mào tinh hoàn, hẹp niệu đạo, vô sinh.
Nếu xác định được nguyên nhân thì điều trị nguyên nhân, nếu không thì điều trị theo hội chứng. Đối với mọi trường hợp tiết dịch niệu đạo, cán bộ y tế cần xác định và điều trị cho các bạn tình. Điều trị viêm niệu đạo do lậu đồng thời phải điều trị viêm niệu đạo do Chlamydia. Mọi trường hợp mắc hội chứng tiết dịch niệu đạo đều cần được giáo dục và tư vấn về hành vi tình dục an toàn Có tới trên 50 % các trường hợp nhiễm khuẩn không triệu chứng vẫn có thể lây bệnh cho bạn tình và có thể tiến triển gây các biến chứng cho chính họ [32].3 Hội chứng loét sinh dục 7 Hội chứng loét sinh dục là tình trạng có các vết loét ở vùng sinh dục, hậu môn gây nên bởi các tác nhân nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục.
Loét sinh dục tạo điều kiện cho HIV lây truyền dễ hơn các NKLTQĐT. Hạ cam, herpes sinh dục và giang mai hay gặp ở những nơi tỉ lệ lưu hành HIV cao và việc phòng chống các bệnh này là thành phần rất quan trọng của phòng chống HIV [32, 50].4 Hội chứng đau bụng dưới Hội chứng đau bụng dưới có các triệu chứng tiết dịch âm đạo, đau, chảy máu khi giao hợp và sốt. Tất cả các phụ nữ có hoạt động tình dục bị đau bụng dưới cần phải được đánh giá cẩn thận để tìm các dấu hiệu viêm tiểu khung. Đau bụng dưới do lậu cầu, Chlamydia có nguy cơ dẫn đến vô sinh.
Tuy nhiên, đau bụng dưới có thể do một số bệnh cấp cứu ngoại khoa và sản phụ khoa, do vậy cần được khám xét cẩn thận để có chẩn đoán và chỉ định điều trị đúng. Đau cấp tính: cần loại trừ các cấp cứu ngoại khoa hoặc sản phụ khoa như: viêm ruột thừa, nang buồng trứng xoắn, thai ngoài tử cung, lạc nội mạc tử cung vỡ. Đau mạn tính: không theo chu kỳ, thường có liên quan đến viêm tiểu khung, viêm phần phụ. Các hậu quả của bệnh khi không được điều trị đúng và đầy đủ, dễ bị nguy cơ thai ngoài tử cung và vô sinh [23].4 Các hậu quả của NKĐSS NKĐSS có thể gây nhiều hậu quả, đặc biệt trong trường hợp không điều trị hoặc điều trị không đầy đủ.
- Gây viêm tiểu khung dẫn đến nguy cơ chửa ngoài tử cung, vô sinh. - Một số NKĐSS gây sẩy thai, thai chết trong tử cung, đẻ non và trẻ đẻ thiếu cân. - Tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. 8 - Lây nhiễm sang trẻ sơ sinh trong quá trình thai nghén, thời kỳ chu sinh và cho con bú: có thể gây viêm kết mạc mắt trẻ sơ sinh và biến chứng mù lòa, viêm phổi, viêm màng não, thiểu năng trí tuệ ở trẻ em, giang mai bẩm sinh, nhiễm HIV.
- Đối với nam có thể gây viêm mào tinh hoàn 2 bên dẫn đến vô sinh. - Tăng nguy cơ lây nhiễm HIV, đặc biệt là các bệnh có loét ở đường sinh dục. - Các trường hợp nhiễm khuẩn không triệu chứng là nguyên nhân làm tăng số người bệnh trong cộng đồng do họ không biết mình bị bệnh, đồng thời chính họ cũng bị biến chứng do không chữa trị [35].5 Cách thức lây truyền NKĐSS Các NKĐSS có thể lây truyền qua: - Quan hệ tình dục không bảo vệ với người bị nhiễm - Nhiễm khuẩn nội sinh: Thường không lây từ người này sang người khác, nhưng sự phát triển quá mức có thể gây nên triệu chứng bệnh. - Nhiễm khuẩn y sinh: + Các thủ thuật y tế, sau khi khám bệnh, các can thiệp trong thời kỳ mang thai,sinh đẻ, thời kỳ hậu sản, KHHGĐ và khám phụ khoa.
Nhiễm khuẩn có thể được đẩy qua cổ tử cung lên đường sinh dục trên và gây nên các nhiễm khuẩn nghiêm trọng ở tử cung, vòi tử cung và các cơ quan khác trong tiểu khung. + Đặt DCTC, kim tiêm hoặc dụng cụ khi thăm khám âm hộ, âm đạo, thăm dò tử cung có thể gây nhiễm khuẩn nếu việc kiểm soát nhiễm khuẩn kém.6 Các nguyên tắc xử trí và điều trị NKĐSS Tuyến xã thường thiếu các điều kiện xét nghiệm để chẩn đoán nguyên nhân cho nên xử trí bệnh theo phương pháp tiếp cận hội chứng, đó là sử dụng các sơ đồ xử trí. Trong trường hợp thiếu thuốc và hoặc phương tiện dụng cụ điều trị ở tuyến xã, phường thì có thể chuyển người bệnh lên tuyến trên[34]. 9 Điều trị theo tiếp cận hội chứng hay điều trị theo căn nguyên nhưng phải tuân thủ theo nguyên tắc: Điều trị sớm để tránh lây lan, biến chứng.
Điều trị đúng và đủ phác đồ. Điều trị cho cả bạn tình; Phối hợp với giáo dục y tế; Điều trị biến chứng nếu có. Đối với mọi trường hợp NKĐSS, cán bộ y tế cần xác định và điều trị cho vợ/chồng, bạn tình để tránh tái nhiễm, trừ trường hợp viêm âm đạo do nấm hoặc do vi khuẩn. Người bệnh không quan hệ tình dục và uống rượu trong khi điều trị.
Tư vấn tình dục an toàn và khuyến khích sử dụng bao cao su là một phần quan trọng để giúp người bệnh tránh mắc bệnh trong tương lai và góp phần hạn chế lây truyền các nhiễm khuẩn LTQĐTD/HIV.6 Tư vấn về phòng tránh NKĐSS Người cung cấp dịch vụ CSSKSS là những cán bộ truyền thông có kỹ năng trong công việc hàng ngày của họ. Cách nói của họ với khách hàng về những vấn đề này quyết định chất lượng tương tác, và ở một mức độ lớn hơn, chất lượng chăm sóc mà khách hàng nhận được. Truyền thông tốt những thông tin về phòng tránh, đặc biệt là những thay đổi hành vi, đi kèm với điều trị hữu hiệu là chìa khóa để kiểm soát NKĐSS[29].