Tổng quan nghiên cứu

Làng Cổ Đạm thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với lịch sử định cư gần 600 năm, sở hữu quy mô diện tích 2,82 km2 và dân số 795 người, đạt mật độ 281 người/km2. Nơi đây được biết đến là cái nôi độc nhánh của nghệ thuật hát Ca trù tại miền Trung, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO vinh danh. Tuy nhiên, dưới sức ép của tiến trình đô thị hóa và các dự án xây dựng nông thôn mới, không gian kiến trúc nhà ở truyền thống tại Cổ Đạm đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Thực trạng phân lô đất ở bám dọc các trục giao thông với diện tích thu hẹp chỉ còn 100 đến 150m2 (chiều rộng mặt tiền 5m) đã phá vỡ hoàn toàn cấu trúc khuôn viên sinh thái nông thôn vốn rộng từ 490 đến 1000m2. Sự biến đổi tùy tiện này làm đứt gãy mối quan hệ xóm giềng truyền thống và làm suy giảm khả năng thích ứng khí hậu tự nhiên của công trình.

Luận văn thạc sĩ kiến trúc của tác giả Phạm Anh Tính, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Kiến trúc sư Nguyễn Sỹ Quế tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, đi sâu nhận diện một cách đồng bộ các giá trị quy hoạch và kiến trúc nhà ở truyền thống làng Cổ Đạm. Mục tiêu then chốt của công trình là xây dựng hệ thống giải pháp bảo tồn, kế thừa và chuyển hóa các giá trị bản sắc vào quy hoạch điểm dân cư nông thôn mới trong giai đoạn 2014 - 2034. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu được thể hiện rõ qua việc định hình không gian sống thích ứng với quá trình chuyển dịch kinh tế, nơi tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ du lịch đóng góp tới 60 tỷ đồng trên tổng giá trị sản xuất 80 tỷ đồng toàn xã, bảo đảm mục tiêu hiện đại hóa gắn liền với gìn giữ di sản dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh thái nhân văn trong kiến trúc cảnh quan và lý thuyết hình thái học làng xã truyền thống vùng duyên hải Bắc Trung Bộ. Khung lý thuyết tích hợp ba trụ cột chính: sự thích ứng của con người với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cấu trúc thiết chế xã hội nông thôn và kỹ thuật tạo dựng không gian kiến trúc bản địa. Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong luận văn gồm: kiến trúc nhà ở truyền thống (loại hình nhà ở gắn với kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp và mô hình vườn ao chuồng), điểm dân cư nông thôn mới (khu vực cư trú tập trung có hạ tầng kỹ thuật và xã hội đồng bộ), thiết chế quần cư làng xã (mô hình liên kết theo dòng họ, ngõ xóm và phường hội), cùng vi khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển. Cơ sở pháp lý của đề tài dựa trên các quy chuẩn xây dựng nông thôn mới hiện hành và tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa trực tiếp trên cỡ mẫu 35 ngôi nhà truyền thống tiêu biểu phân bố tại 6 xóm thuộc làng Cổ Đạm, trong đó tập trung mật độ cao nhất tại xóm Gò – trung tâm cư trú cổ nhất của làng. Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được lựa chọn nhằm bao quát đầy đủ các dạng thức kết cấu vì kèo đặc trưng như Tứ trụ, Long Lẩm, Hạ Lẩm và Giao Nguyên. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành điều tra xã hội học trên 120 hộ gia đình tại thôn Cổ Đạm (trên tổng số 500 hộ toàn xã) để đánh giá nhân khẩu học, thu nhập và nguyện vọng cải tạo không gian ở.

Phương pháp phân tích hình thái học so sánh đối chiếu qua không gian và thời gian được lựa chọn làm công cụ nghiên cứu chính. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm làm sáng tỏ quy luật biến đổi cấu trúc khuôn viên và vi khí hậu qua 3 giai đoạn lịch sử: trước năm 1954, giai đoạn 1954 - 1986 và giai đoạn từ năm 1986 đến nay. Toàn bộ quá trình hồi cứu tư liệu, đo vẽ trắc đạc hiện trạng và xử lý số liệu thống kê được thực hiện bài bản trong timeline nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận sự thu hẹp đột ngột của diện tích khuôn viên cư trú. Trước năm 1954, mỗi hộ gia đình sở hữu khuôn viên rộng từ 1 đến 2 sào Trung Bộ (tương đương 490 đến 1000m2), duy trì tỷ lệ phủ xanh và mặt nước tự nhiên rất cao. Giai đoạn 1954 - 1986, diện tích khuôn viên giảm xuống mức 500 đến 700m2 do điều chỉnh đất đai thời kỳ hợp tác xã. Từ sau năm 1986 đến nay, các khu đất ở mới bị chia cắt manh mún thành các lô 100 đến 150m2 với kích thước mặt tiền 5m và chiều sâu 20 đến 25m. Việc diện tích đất ở giảm hơn 70% so với trước đây đã triệt tiêu hoàn toàn không gian vườn ao, sân phơi và giàn cây xanh.

Thứ hai, kết cấu và vật liệu xây dựng có sự chuyển biến làm suy giảm trầm trọng khả năng tự điều hòa nhiệt độ. Nhà ở truyền thống Cổ Đạm sử dụng hệ khung gỗ vì kèo giá chiêng, tường trình đất sét trộn cói dày từ 0,5 đến 0,7m và mái lợp hai lớp (ngói liệt kết hợp ngói mũi) giúp duy trì sự mát mẻ vượt trội trong mùa hè, đặc biệt khi chịu tác động của gió Tây Nam hanh khô với độ ẩm chỉ 30 đến 40%. Trái lại, hơn 85% nhà ở xây mới hiện nay sử dụng kết cấu tường gạch mỏng, sàn mái bê tông cốt thép hoặc lợp tôn, làm nhiệt độ trong phòng tăng thêm từ 3 đến 5 độ C dưới bức xạ mặt trời gay gắt.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế - xã hội ghi nhận sự chuyển dịch sâu sắc khi lao động dịch vụ thủ công nghiệp chiếm 48%, cán bộ hưu trí chiếm 18%, trong khi lao động thuần nông chỉ còn chiếm 18%. Mặc dù vậy, các quy hoạch phân lô mới chưa chú trọng bố trí không gian phục vụ hoạt động thủ công nghiệp, sinh hoạt ca trù và giao lưu văn hóa ngõ xóm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự lai tạp kiến trúc là do tình trạng phát triển tự phát và chính sách đổi đất lấy hạ tầng của địa phương, biến các trục đường liên thôn thành những dãy nhà ống đô thị khô cứng. Việc áp dụng mô hình phân lô 5m x 20m hoàn toàn không phù hợp với đời sống sinh kế nông thôn. Các dữ liệu khảo sát trong luận văn được hệ thống hóa rõ ràng thông qua bảng ma trận tiến trình biến đổi 3 thời kỳ và biểu đồ cơ cấu kinh tế (nông nghiệp 25%, tiểu thủ công nghiệp 37,5%, thương mại du lịch 37,5%).

Khi so sánh với các nghiên cứu kiến trúc nhà ở tại châu thổ sông Hồng, kiến trúc làng Cổ Đạm thể hiện tính thích ứng đặc thù của vùng duyên hải hạ lưu sông Lam: tổ chức không gian theo nguyên lý "trước cau sau chuối", hệ thống tường dầy chống bão và mạng lưới ngõ xóm zíc zắc tạo vi khí hậu che chắn gió Lào và gió bão biển Đông.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, điều chỉnh quy hoạch phân vùng không gian làng xã truyền thống kết hợp điểm dân cư nông thôn mới. Ủy ban nhân dân huyện Nghi Xuân và Sở Xây dựng tỉnh Hà Tĩnh cần chấm dứt việc chia lô nhà ống 100m2 tại khu vực lõi làng cổ; ban hành quy chuẩn diện tích đất ở tối thiểu đạt 350 đến 500m2 cho hộ thuần nông và 180 đến 250m2 cho hộ bán thuần nông kết hợp dịch vụ ca trù, hoàn thành phê duyệt quy hoạch trong giai đoạn 2015 - 2020.

Thứ hai, thiết kế và phổ biến các mẫu nhà ở nông thôn mới kế thừa kiến trúc bản địa. Viện Quy hoạch Kiến trúc tỉnh Hà Tĩnh chủ trì xây dựng 03 mẫu thiết kế nhà ở tiêu chuẩn, ứng dụng hệ mái dốc hai lớp ngói, hàng hiên rộng tối thiểu 1,8m đón gió mát Nam và Đông Nam, kết hợp tường vật liệu cách nhiệt chống gió Phơn Tây Nam. Mục tiêu đạt 80% công trình xây mới tại địa phương áp dụng mẫu chuẩn vào năm 2025, giúp giảm từ 15 đến 20% chi phí tiêu thụ năng lượng làm mát.

Thứ ba, bảo tồn và phục hồi không gian văn hóa di sản hát Ca trù. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh phối hợp với cộng đồng làng Cổ Đạm tiến hành trùng tu quần thể di tích đình Hoa Vân Hải, chùa làng và hệ thống 12 nhà thờ họ lớn. Tạo lập chuỗi không gian biểu diễn ca trù trong khuôn viên gia đình truyền thống, kết nối tuyến du lịch văn hóa ven sông Lam trong lộ trình 2020 - 2030.

Thứ tư, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và tiêu thoát nước sinh thái. Ủy ban nhân dân xã Cổ Đạm chỉ đạo nạo vét và kết nối liên thông 100% hệ thống mương rãnh với các ao hồ tự nhiên, bảo đảm thoát nước mưa triệt để trong vòng 24 giờ sau mưa lũ; giữ gìn mạng lưới đường ngõ xóm tự nhiên, thay thế rãnh thoát nước hở bằng cống ngầm sinh thái trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các kiến trúc sư và nhà quy hoạch đô thị - nông thôn: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và giải pháp chi tiết về kế thừa hệ kết cấu vì kèo gỗ (Tứ trụ, Long Lẩm, Giao Nguyên), kỹ thuật xử lý vi khí hậu trong thiết kế công trình nông thôn hiện đại.

Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước như Sở Xây dựng Hà Tĩnh và Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Nghi Xuân: Sử dụng trực tiếp hệ thống chỉ tiêu diện tích đất ở từ 350 đến 500m2 và các định hướng phân nhóm nhà ở để xây dựng chính sách quản lý kiến trúc nông thôn mới bền vững.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và bảo tồn di sản: Luận văn mở ra phương pháp tiếp cận liên ngành sâu sắc giữa hình thái cư trú làng xã gần 600 năm tuổi với việc duy trì không gian diễn xướng của di sản văn hóa phi vật thể Ca trù tại 6 xóm cổ.

Thứ tư, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kiến trúc, Quy hoạch: Công trình là tài liệu học thuật mẫu mực về phương pháp khảo sát trắc đạc thực địa 35 công trình cổ kết hợp điều tra xã hội học 120 hộ dân cư nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao việc phân lô đất ở diện tích 100 đến 150m2 không phù hợp tại làng Cổ Đạm? Mô hình phân lô nhà ống mặt tiền 5m với diện tích 100 đến 150m2 chỉ thích hợp cho đô thị nén. Tại Cổ Đạm, quy mô này làm mất đi hơn 70% diện tích sân vườn, ao cá và sân phơi, khiến hộ gia đình nông thôn không còn không gian chăn nuôi, chế biến nông sản và giao lưu văn hóa cộng đồng.

  2. Hệ kết cấu vì kèo truyền thống tại làng Cổ Đạm có những đặc trưng kỹ thuật gì? Kiến trúc cổ Cổ Đạm sở hữu các bộ vì kèo gỗ độc đáo như Tứ trụ, Long Lẩm, Hạ Lẩm và Giao Nguyên. Hệ kết cấu này sử dụng liên kết mộng gỗ chịu lực chuẩn xác kết hợp với hệ tường trình đất dày từ 0,5 đến 0,7m, tạo nên độ bền vững cao trước gió bão khắc nghiệt vùng duyên hải.

  3. Nhà ở truyền thống Cổ Đạm thích ứng như thế nào với gió Tây Nam (gió Lào)? Công trình bản địa áp dụng triệt để nguyên tắc mở hướng chính về phía Nam đón gió mát, đóng kín mặt hướng Tây và Tây Nam. Mái nhà lợp hai lớp gồm ngói liệt và ngói mũi tạo khoảng đệm không khí cách nhiệt, ngăn chặn hiệu quả luồng gió khô nóng có độ ẩm chỉ từ 30 đến 40%.

  4. Không gian kiến trúc nhà ở đóng vai trò gì trong việc bảo tồn hát Ca trù? Không gian nhà ở truyền thống với gian giữa trang trọng, hàng hiên rộng cùng sân đình Hoa Vân Hải và các nhà thờ họ chính là môi trường diễn xướng cội nguồn của Ca trù. Cấu trúc cư trú gắn kết theo ngõ xóm giúp duy trì tập quán truyền dạy ca trù bền bỉ qua gần 600 năm lịch sử.

  5. Định hướng quy hoạch nhà ở nông thôn mới Cổ Đạm giai đoạn 2014 - 2034 đề xuất chỉ tiêu diện tích nào? Luận văn đề xuất phân loại diện tích đất ở thành 3 nhóm: hộ thuần nông bố trí từ 350 đến 500m2 để duy trì vườn ao chuồng; hộ bán thuần nông và làm nghề dịch vụ ca trù bố trí từ 180 đến 250m2; khu vực trung tâm thương mại dịch vụ áp dụng từ 120 đến 150m2.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện các giá trị kiến trúc nhà ở truyền thống của làng Cổ Đạm với lịch sử gần 600 năm gắn liền với di sản văn hóa phi vật thể Ca trù.
  • Chỉ rõ những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa tự phát và sự bất cập của mô hình phân lô nhà ống 100 đến 150m2 đối với sinh thái nông thôn.
  • Đề xuất giải pháp kiến trúc thích ứng vi khí hậu với hệ mái dốc hai lớp ngói và tường cách nhiệt, giúp giảm nhiệt bức xạ từ 3 đến 5 độ C trong công trình.
  • Thiết lập khung chỉ tiêu quy hoạch khuôn viên đất ở chuẩn mực từ 350 đến 500m2, gắn kết hài hòa giữa bảo tồn di sản và phát triển hạ tầng hiện đại.
  • Xác định lộ trình thực thi đồng bộ các giải pháp quy hoạch, kiến trúc và tôn tạo không gian di sản trong giai đoạn 2014 - 2034.

Công trình luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Anh Tính là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu có giá trị khoa học và thực tiễn cao. Các cơ quan quản lý, chuyên gia quy hoạch và kiến trúc sư hãy cùng nghiên cứu, ứng dụng những đề xuất trên vào thực tế để kiến tạo không gian nông thôn mới Cổ Đạm hiện đại, bền vững và đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam.