Mở đầu tăng lãi suất huy động trong giai đoạn này là NHTMCP Nhà Hà Nội (HaBubank), NHTMCP Kiên Long (KienLongbank), NHTMCP Phát triển Mê Kông (MDB), NHTMCP Gia Định (GiaDinhbank), NHTMCP Phương Tây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 (Westernbank), SeaBank…, đây là những ngân hàng công bố mức lãi suất cao nhất thị trường từ 13,2% - 13,9% 9. Hiện tượng huy động vượt trần lãi suất nêu trên đã buộc NHNN phải trực tiếp đứng ra tập hợp các NHTM để cùng nhau thống nhất mức đồng thuận lãi suất 14% và đưa ra các biện pháp chế tài đối với những trường hợp vi phạm. Tuy nhiên, với tình trạng thanh khoản kém thì các ngân hàng vừa và nhỏ vẫn huy động vượt trần. Tiếp theo đó các ngân hàng lớn bao gồm cả những ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cũng phải nâng lãi suất huy động nhằm ngăn chặn hiện tượng lượng tiền gửi chuyển qua những ngân hàng có lãi suất cao hơn, các mức lãi suất mới trên thị trường được thiết lập 15%, 16% và cao nhất là 17% vượt xa so với mức đồng thuận trước đó.2 Hệ quả của hiện tượng chạy đua lãi suất Đối với bản thân các ngân hàng vừa và nhỏ, hành vi lách luật tăng lãi suất để huy động vốn có thể giúp các ngân hàng này giải quyết được những khó khăn thanh khoản trước mắt, tuy nhiên hành vi này lại gây ra nhiều ngoại tác tiêu cực đối với hệ thống ngân hàng cũng như đối với sự phát triển kinh tế và một số yếu tố chính trị xã hội khác.
Những hệ lụy kéo theo từ việc nâng lãi suất huy động ở một số ngân hàng vừa và nhỏ đối với hệ thống ngân hàng có thể thấy sau đây. Mặc dù những NHTM khác trong hệ thống không gặp phải vấn đề về thanh khoản nhưng cũng buộc phải nâng lãi suất để ngăn chặn lượng tiền gửi tại ngân hàng mình chạy sang những ngân hàng huy động với lãi suất cao hơn. Điều đó dẫn đến mặt bằng lãi suất cao hơn được hình thành. Để tiếp tục duy trì khả năng huy động vốn những ngân hàng vừa và nhỏ sẽ phải tiếp tục tăng lãi suất huy động, đặc biệt một số ngân hàng đã thực hiện huy động lãi suất bằng nhau ở nhiều kì hạn khác nhau và thậm chí ở những kì hạn ngắn lãi suất cao hơn những kì hạn dài để tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi ngắn hạn.
Việc chạy đua lãi suất như trên đã dẫn tới hệ quả tất yếu là hầu hết người gửi tiền chọn gửi những kì hạn ngắn để có thể tận dụng được sự biến động về lãi suất, đồng thời vẫn được hưởng mức lãi tương đương với những kì hạn dài hơn. Nếu hiện tượng này vẫn tiếp tục thì cơ cấu nguồn vốn ngắn hạn và trung dài hạn sẽ bị mất cân đối, về lâu dài sẽ ảnh hưởng lớn đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng. 9 Trang thông tin về lãi suất (2010) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Không chỉ dừng ở đó, những tác động tiêu cực từ hiện tượng chạy đua lãi suất còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và các yếu tố chính trị – xã hội khác. Có thể thấy rằng mặt bằng lãi suất cao hơn sẽ ảnh hưởng đến những đối tượng sử dụng vốn vay đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó tăng trưởng kinh tế có thể bị suy giảm và các vấn đề an sinh xã hội có thể nảy sinh khi thất nghiệp gia tăng.
Ngoài ra hiện tượng chạy đua lãi suất lặp đi lặp lại có thể làm suy giảm niềm tin của người dân vào vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước, khi mà cơ quan quản lý này chưa thực hiện được chức năng đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định và hiệu quả; bên cạnh đó việc người dân chạy theo những ngân hàng có mức lãi suất cao nhưng lại không biết rõ về khả năng thanh khoản của những ngân hàng này vì vậy chỉ cần một biến cố ảnh hưởng đến niềm tin có thể xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt, đây chính là mầm mống của khủng hoảng ngân hàng. Với những phân tích trên cho thấy, hành vi chạy đua lãi suất của các NHTM đã gây ra nhiều ngoại tác tiêu cực cho hệ thống ngân hàng và có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế cũng như nhiều vấn đề chính trị - xã hội khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 CHƯƠNG 3 NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC ĐUA LÃI SUẤT Có những nguyên nhân trực tiếp và những nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến hiện tượng chạy đua lãi suất của các NHTM trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, để tìm ra những giải pháp chính sách hữu hiệu giải quyết hiện tượng trên nghiên cứu này cần phải phân tích trọng tâm vào những nguyên nhân tiềm ẩn gắn liền với những thất bại của thị trường và thất bại của chính sách - giám sát.
Chính vì vậy, trong phần nội dung tiếp theo Chương 3 sẽ khái quát về những nguyên nhân mang tính trực tiếp như lạm phát và chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, phần lớn nội dung còn lại dành để phân tích sâu những nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến hiện tượng này.1 Nguyên nhân trực tiếp đến từ bối cảnh vĩ mô và chính sách tiền tệ của NHNN Tín dụng năm 2007 tăng trưởng mạnh 53,89% cao hơn nhiều so với mức 25,44% của năm 2006 và ảnh hưởng xấu đến tình hình lạm phát đầu năm 2008 10. 2 tháng đầu năm 2008 lạm phát đã lên đến 6,02%, để đối phó với tình hình lạm phát tăng cao NHNN đã sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ. Đầu tiên, hầu hết các công cụ lãi suất được sử dụng. Sự thay đổi của các lãi suất chủ chốt Lãi suất chủ chốt Cuối 2007 1/1/2008 19/05/2008 11/6/2008 Lãi suất cơ bản 8,25% 8,75% 12% 14% Lãi suất chiết khấu 4,50% 6% 11% 13% Lãi suất tái cấp vốn 6,50% 7,50% 13% 15% Nguồn: Tác giả tổng hợp từ website NHNN Tiếp theo đó để thắt chặt tiền tệ hơn nữa, cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 2008 NHNN phát hành 20.300 tỷ VND tín phiếu bắt buộc cho hơn 40 NHTM trong hệ thống.
Những ngân hàng lớn như ACB, NHTMCP Xuất nhập khẩu (Eximbank) được yêu cầu mua từ 500 - 1.500 tỷ VND …còn đối với những ngân hàng vừa và nhỏ như AnBinhBank, NHTMCP Việt Á (VietABank)… được yêu cầu mua ít hơn từ 150 - 250 tỷ VND. Mặc dù phải mua tín 10 Ngân hàng Nhà nước ( 2007 – 2008) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 phiếu với giá trị ít hơn nhưng các ngân hàng vừa và nhỏ vẫn phải chịu áp lực thanh khoản rất lớn vì yếu tố kém thanh khoản đã tồn tại trong bản thân những ngân hàng này từ trước đó (sẽ được trình bày ở tiểu mục tiếp theo). Vì vậy các ngân hàng này phải tăng mạnh lãi suất để hút lượng tiền gửi trên thị trường dân doanh. VietABank là một trong những ngân hàng vừa và nhỏ mở đầu tăng lãi suất huy động lên đến 13,96% do đó đã thu hút được một lượng tiền gửi để có thể thực hiện được chỉ tiêu 150 tỷ VND tín phiếu bắt buộc được giao 11.
Cũng trong cùng thời điểm này, lo lắng về tính mất thanh khoản của hệ thống ngân hàng, NHNN đã cung ứng ngược trở lại 33.000 tỷ VND 12 thông qua thị trường mở. Tuy nhiên, phương pháp hỗ trợ thanh khoản này chẳng những không đến được tay những đối tượng kém thanh khoản nhất trong thị trường là những ngân hàng vừa và nhỏ, mà ngược lại còn tăng nguồn vốn khả dụng cho những ngân hàng dẫn đầu kiếm lời trên thị trường LNH khi mà lãi suất tái chiết khấu chỉ ở mức 6% còn lãi suất liên ngân hàng dao động từ 10% -21% tùy từng thời điểm 13. Chính sách thắt chặt tiền tệ đầu năm 2008 đã làm giảm tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán của cả năm 2008 chỉ còn 20,31%, thấp hơn nhiều so với mức 46,12% của năm 2007. Đồng thời tăng trưởng huy động của hệ thống ngân hàng chỉ đạt 22,87% thấp hơn một nửa so với mức 47,64% năm 2007 14.
Dưới tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ, những ngân hàng vừa và nhỏ trở thành đối tượng kém sức chịu đựng nhất và buộc những ngân hàng này phải tăng lãi suất huy động để giải quyết thanh khoản (như đã được trình bày rõ trong phần diễn biến cuộc đua lãi suất 2008). Cuộc đua lãi suất 2010 cũng diễn ra trong bối cảnh kinh tế vĩ mô có nhiều nét tương đồng với năm 2008. Lạm phát xu hướng tăng cao xuất hiện vào những tháng cuối năm đã khiến NHNN phải kiềm chế bằng các biện pháp thắt chặt tiền tệ. Tác động của chính sách này cũng là giọt nước làm tràn ly đối với những yếu kém tiềm ẩn bên trong nội tại của nhóm 11 Trang thông tin Việt Báo (2008) 12 Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (2008) 13 Ngân hàng Nhà nước (2008) 14 Ngân hàng Nhà nước (2008) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 ngân hàng vừa và nhỏ và cuộc đua lãi suất cũng bắt đầu từ hành vi nâng lãi suất huy động nhằm giải quyết thanh khoản của nhóm ngân hàng này.2 Nguyên nhân tiềm ẩn đến từ thất bại thị trường và thất bại chính sách - giám sát của NHNN Để chứng minh sự tồn tại của thất bại thị trường và thất bại chính sách - giám sát của NHNN, nghiên cứu này sẽ tiến hành khảo sát 9 trên 28 NHTMCP vừa và nhỏ và 3 trên 11 NHTMCP thuộc nhóm dẫn đầu, theo thống kê theo năm 2010 (Cơ sở để phân chia nhóm ngân hàng vừa và nhỏ được trình bày tại Phụ lục 3).
Việc chọn lựa các ngân hàng khảo sát dựa trên nguyên tắc: có nguồn thông tin minh bạch như báo cáo tài chính, báo cáo thường niên; mang tính đại diện không mang những tính chất cá biệt (ví dụ như NHTMCP Liên Việt (LienVietBank) và NHTMCP Tiên phong (TPBank) là những ngân hàng mới được thành lập vào năm 2008 vì vậy một số chỉ tiêu hoạt động sẽ không phản ánh được thực trạng của nhóm các ngân hàng vừa và nhỏ, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và NHTMCP Công Thương Việt Nam (Vietinbank) là hai ngân hàng được cổ phần hóa từ NHTMNN trong vài năm trở lại đây, vì vậy bản chất của nó sẽ không phản ánh được thực trạng của các NHTMCP trong nhóm các ngân hàng dẫn đầu). Những ngân hàng vừa và nhỏ được khảo sát STT Ngân hàng Tổng tài sản 2010 (tỷ VND) 1 NHTMCP Phát triển Mê Kông (MDB) 7.400 2 NHTMCP Gia Định (GiaDinhBank) 8.