CHƯƠNG 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 1. Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở Theo cách hiểu chung nhất thì khái niệm “Nghiệp vụ thị trường mở“ là hoạt động mua bán giấy tờ có giá giữa Ngân hàng Trung ương với các đối tác được lựa chọn để qua đó tác động tới lãi suất của thị trường hoặc dự trữ của các đối tác này, vì thế có thể ảnh hưởng tới các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế thông qua những ảnh hưởng về mặt lượng và giá cả. Thuật ngữ “Thị trường mở“ ở đây được hiểu là một thị trường có tính chất mở, nghĩa là đa dạng với các đối tác tham gia trên thị trường và đa dạng về các loại giao dịch trên thị trường [8].
OMOs là một trong các công cụ CSTT có hiệu quả cao và hiện đang được các nước trên thế giới sử dụng. Mặc dù OMOs được sử dụng phổ biến nhưng việc đưa ra một khái niệm chung là không thống nhất. sự không thống nhất này thể hiện ở sự khác nhau về hàng hóa giao dịch các đối tác tham gia thị trường và các loại giao dịch trên thị trường. Các GTCG được sử dụng trên thị trường mở là các giấy tờ có giá ngắn hạn và dài hạn như tín phiếu, trái phiếu chính phủ, Tín phiếu NHTW, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu ngân hàng .[7] các chủ thể của thị trường mở là NHTW và các đối tác chủ yếu là các ngân hàng, và có thể là các đối tác tài chính tín dụng phi ngân hàng.
Xét về mặt hình thức, thị trường mở là thị trường giao dịch các chứng khoán nợ cả ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên khác với các khái niệm có phạm vi và loại hình công cụ rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ, thị trường mở ở các nước khác nhau lại khác nhau về phạm vi loại hình công cụ và thời hạn của các công cụ giao dịch trên thị trường. Đối với 6 một số nước, hàng hóa giao dịch trên thị trường mở chỉ gồm các GTCG ngắn hạn và đối tác tham gia chỉ là các TCTD. Khi đó, thị trường mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ.
Đối với các nước khác như Mỹ, Đức thì các GTCG dài hạn cũng có thể giao dịch, khi đó thị trường mở bao gồm cả một phần của thị trường chứng khoán. Điều đó có nghĩa là các giới hạn, quy định khác nhau về hàng hóa và đối tác tham gia OMOs của NHTW sẽ quyết định khái niệm cụ thể về thị trường mở ở từng nước. Tóm lại: Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua bán giấy tờ có giá giữa NHTW và các TCTD. Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá.
NHTW tác động trực tiếp đến dự trữ hệ thống các TCTD và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường. Như vậy NHTW có thể tác động đến hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng cả về mặt số lượng và về giá. Khi NHTW mua giấy tờ có giá trên thị trường mở làm tăng dự trữ của ngân hàng, từ đó làm tăng tiền cơ bản và tăng tiền cung ứng. Ngược lại, khi NHTW bán giấy tờ có giá trên thị trường mở làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng và đồng thời cũng làm giảm tiền cơ bản và giảm tiền cung ứng, các giấy tờ có giá thường giao dịch ngắn hạn trên thị trường là giấy tờ có giá ngắn và dài hạn như trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, tín phiếu, trái phiếu ngân hàng.
tổ chức tham gia giao dịch nghiệp vụ thị trường mở trước hết là NHTW và các đối tác chủ yếu là ngân hàng và có thể là các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Đặc điểm của nghiệp vụ thị trường mở 1. Mục tiêu hoạt động của thị trường mở Mục tiêu điều tiết của OMOs có thể là điều tiết khối lượng hoặc điều tiết lãi suất. Điều tiết khối lượng Với mục tiêu điều tiết khối lượng, OMOs thực hiện điều tiết vốn khả dụng của các TCTD nhằm đảm bảo sự biến động của lượng tiền cơ sở (MB) 7 hoặc một bộ phận của tiền cơ sở nằm trong một giới hạn nhất định.
Thông thường khi thực hiện mục tiêu điều tiết khối lượng, lãi suất thị trường đặc biệt là lãi suất trên thị trường liên ngân hàng sẽ biến động theo sự thay đổi về cung cầu vốn và tính thanh khoản của thị trường. Mục tiêu điều tiết khối lượng thường được lựa chọn trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa phát triển, sự nhạy cảm của lãi suất với cungcầu vốn không cao, lượng hàng hóa đủ điều kiện giao dịch trên OMOs ở một sốthời điểm có thể không đáp ứng yêu cầu điều tiết, làm hạn chế khả năng điều tiết của NHTW. Điều tiết lãi suất Với mục tiêu điều tiết lãi suất, NHTW sẽ thực hiện bơm tiền ra và hút tiền về không bị giới hạn về mặt khối lượng để đảm bảo lãi suất thị trường (thường là lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng) biến động trong phạm vi mục tiêu của NHTW. Chẳng hạn, trong trường hợp thị trường thiếu vốn khả dụng làm cho lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng cao, NHTW phải bơm một lượng tiền đủ lớn để để đáp ứng nhu cầu thị trường nhằm đảm bảo lãi suất trên thị trường liên ngân hàng phù hợp với mục tiêu của NHTW.
Thị trường tiền tệ hiệu quả, có tính thanh khoản cao là điều kiện cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu điều tiết lãi suất của OMOs. Tóm lại, thông qua 2 mục tiêu hoạt động của OMOs, NHNN đạt được các mục tiêu khác như điều tiết thanh khoản VND để ổn định thị trường tiền tệ, góp phần đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát cũng như có thể hỗ trợ ổn định tỷ giá. Các loại nghiệp vụ thị trường mở Có hai loại nghiệp vụ thị trường mở: nghiệp vụ thị trường mở năng động nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ số tiền tệ và nghiệp vụ thị trường mở thụ động nhằm bù lại những vận động của các nhân tố khác đã ảnh hưởng tới cơ số tiền tệ. 8 Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW thường được thực hiện theo hai cách chủ yếu: Các giao dịch không hoàn lại và các giao dịch có hoàn lại.
Các giao dịch không hoàn lại (hay các giao dịch mua đứt): Các giao dịch này bao gồm các nghiệp vụ mua, bán chứng khoáncủa NHTW theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường. Hình thức giao dịch này làm chuyển hẳn quyền sở hữu đối với các chứng khoán là đối tượng giao dịch. Vì vậy ảnh hưởng của nó đối với dự trữ của các ngân hàng là dài hạn. Các giao dịch có hoàn lại (hay giao dịch có kỳ hạn): Phương pháp này chủ yếu được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời là các hợp đồng mua lại.
Hợp đồng mua lại được sử dụng khi NHTW thực hiện một giao dịch theo hợp đồng mua lại, có nghĩa là nó mua chứng khoán từ người môi giới trên thị trường, người đồng ý sẽ mua lại vào một ngày xác định trong tương lai. Các giao dịch có hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong nghiệp cụ thị trường mở vì những lý do sau: - Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng không dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng; - Chi phí giao dịch cho một hợp đồng mua lại rẻ hơn so với các hợp đồng mua đứt bán đoạn; - Thích hợp trong trường hợp các định hướng chính sách tiền tệ không hoàn hảo dẫn đến việc sử dụng các giải pháp khắc phục; - Làm giảm thời gian thông báo, do đó giảm bớt biến động của thị trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW. Ngoài ra một loạt các nghiệp vụ khác cũng được NHTW sử dụng trong nghiệp vụ thị trường mở như: phát hành chứng chỉ nợ của NHTW, giao dịch hoán đổi các chứng khoán đến hạn, giao dịch hoán đổi ngoại tệ. NỘI DUNG CỦA NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 1.
Các chủ thể tham gia thị trường mở Thành viên tham gia OMOs ở từng nước không giống nhau nhưng tựu chung lại phải cỏ sự tham gia của NHTW và chỉ có sự tham gia của NHTW mới làm khối lượng tiền tệ thay đổi. Một TCTD này bán GTCG cho TCTD khác chi là sự chuyển dịch GTCG và di chuyển ngược lại của một phần dự trừ đang dư thừa từ TCTD này sang TCTD khác đang thiếu vốn mà thôi. Ngoài NHTW, các chủ thể khác tham gia OMOs phải thỏa mãn những tiêu chuẩn cụ thể của NHTW. Các tiêu chuẩn này thường nhằm vào hai mục đích: (i) Các đối tác có tài khoàn tiền gửi tại NHTW và phải đảm bảo độ tin cậy nhất định, (ii) Việc giao dịch vởì cảc đổi tác đỏ cỏ hiệu quả xét ờ khía cạnh can thiệp của NHTW.
Các thành viên tham gia giao dịch OMOs bao gồm: 1.1 Ngân hàng trung ương NHTW tham gia thị trường mở với tư cách vừa là thành viên, vừa là người điều hành, quản lý thị trường thông qua việc mua, bán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của hệ thống ngân hàng và các lãi suất thị trường theo mục tiêu CSTT. NHTW sử dụng OMOs trên cơ sở hoạch định CSTT. Qua đó NHTW quản lý khối lượng tiền cung ứng, kiểm soát và điều tiết hoạt động tín dụng của các TCTD. NHTW tham gia thị trường mở không phải để kinh doanh mà để quản lý, chi phối thị trường làm cho chính sách tiền tệ được thực hiện theo đúng mục tiêu của nó.
Các ngân hàng thương mại Các NHTM là thành viên chủ yếu tham gia thị trường mở và là đối tác quan trọng của NHTW xét trên 2 phương diện độ tin cậy và tính hiệu quả. Các NHTM tham gia thị trường mở nhằm điều hoà mức dự trữ ngân quỹ để duy trì khả năng thanh toán, cho vay khoản vốn dư thừa để hưởng lãi. 10 Các NHTM đóng vai trò quan trọng trên thị trường mở vì: (i) NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, có mạng lưới hoạt động rộng và gắn kết thành hệ thống qua trung tâm thanh toán nên mỗi sự thay đổi dự trữ của các ngân hàng sẽ gây ảnh hưởng nhiều chiều đến khối lượng tiền cung ứng theo mong muốn của NHTW. NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.
(ii) Ngoài ra, NHTM là thành viên đặc biệt của thị trường tiền tệ, vừa là người đi vay vừa là người cho vay.