CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN XUẤT KHẨU -5 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ bao thanh toán và bao thanh toán xuất khẩu Bao thanh toán có một lịch sử phát triển lâu dài, là một trong những hình thức lâu đời nhất của tài trợ. Những tài liệu còn lại của người Ai Cập và Phoenicia xưa cho thấy rằng các hoạt động thương mại của họ đều liên quan đến thuật ngữ mà ngày nay chúng ta gọi là bao thanh toán. Nhiều chuyên gia khác lại cho rằng: bao thanh toán khởi nguồn từ cách đây 4000 năm, từ thời Hammurabi. Hammurabi là vị vua của dân tộc Mesopotamia, vốn được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh nhân loại.
Người Mesopotamia đã sáng tạo ra rất nhiều thứ, trong đó có chữ viết, cơ cấu hệ thống luật kinh doanh và quy định của chính phủ, đặt nền tảng cho khái niệm bao thanh toán. Ở Anh, bao thanh toán bắt đầu được sử dụng rộng rãi khi ngành công nghiệp len sợi bắt đầu phát triển vào thế kỷ 14. Những tổ chức bao thanh toán xa xưa đóng vai trò đại lý bán hàng của các nhà máy sợi. Phương tiện liên lạc chậm chạp đã làm cản trở các giao dịch kinh tế.
Tổ chức bao thanh toán thời kỳ này tự quyết định tất cả chẳng hạn như xem xét mặt hàng nào được yêu thích ở khu vực của mình. Sau đó hàng hoá được chuyên chở trực tiếp đến tổ chức bao thanh toán và tổ chức này nhận mọi rủi ro thu nợ hàng hóa bán chịu trong khu vực. Theo cách đó, tổ chức bao thanh toán như ngày hôm nay, bắt đầu phát triển và được biết đến. Trong hệ thống này, các tổ chức bao thanh toán đảm nhiệm nhiệm vụ mà ngày nay chúng ta gọi là rủi ro tín dụng.
Tổ chức bao thanh toán ký hoá đơn bằng chính tên của mình và giữ lại 20- 25% của những khoản phải thu để bù đắp cho việc khiếu nại những hàng hoá không đạt yêu cầu và những tranh chấp phát sinh. Ở các nước thuộc địa Châu Mỹ, trước khi cách mạng bùng nổ, vào thời kỳ này sợi cotton, lông thú và gỗ được chuyên chở để bán từ các nước thuộc địa. Ngân hàng Merchant ở Luân Đôn và các khu vực khác của Châu Âu đã ứng trước cho những người dân thuộc địa khoản tiền từ việc bán hàng hoá. Điều đó cho phép người dân thuộc địa tiếp tục sản xuất mà không phải lo lắng chờ đợi những người -6 khách Châu Âu trả tiền cho mình.
Nếu những người dân thuộc địa bị bắt phải dùng những tiện ích ngân hàng hiện đại thì tiến trình bán hàng chắc hẳn phải lâu hơn nhiều. Ngân hàng sẽ phải đợi người mua nhận được hàng rồi mới trả tiền cho người bán. Thật không khả thi và tiện ích cho bên nào cả. Vì thế, cũng giống như ngày nay, tổ chức bao thanh toán của thời kỳ thuộc địa cũ đã chấp nhận trả tiền trước cho khách hàng, cho phép họ có thể tiếp tục công việc kinh doanh một thời gian dài trước khi được người mua chi trả.
Như vậy, bao thanh toán đã có một lịch sử phát triển lâu đời. Ngày nay tổ chức bao thanh toán đang tồn tại dưới nhiều hình thức và quy mô, như một bộ phận của một định chế tài chính lớn và phần lớn là do những tổ chức tư nhân điều hành và sở hữu. Những năm 60 và 70 của thế kỷ 20, số lượng của các tổ chức bao thanh toán tăng đột biến bởi sự gia tăng của lãi suất. Xu hướng này ngày càng nổi bật vào những năm 80, chủ yếu là do tác động của việc lãi suất liên tục gia tăng và những chuyển biến trong hoạt động ngân hàng.
Khi chi phí vay ngân hàng trở nên quá đắt đỏ và cứng nhắc về những quy định khắt khe, các doanh nghiệp nhỏ buộc phải tìm các nguồn tài chính khác phục vụ cho việc phát triển kinh doanh của mình. Cho đến nay bao thanh toán đã được sử dụng rộng rãi trên hầu hết các Châu Lục với tốc độ tăng trưỏng liên tục và khá ổn định 1. Khái niệm bao thanh toán và bao thanh toán xuất khẩu 1.1 Bao thanh toán Bao thanh toán có nghĩa là mua bán các khoản phải thu. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bao thanh toán.
Theo những nguồn tham khảo khác nhau thì bao thanh toán được tiếp cận với những khái niệm khác nhau. Theo từ điển kinh tế của hai nhà biên soạn Christopher Pass & Bryan Lones thì “Bao thanh toán (factoring) là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tài chính (công ty mua nợ_Factor) mua lại các khoản nợ của một doanh nghiệp với số tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền -7 thu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của khoản nợ đó. Lợi ích của doanh nghiệp bán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ thương mại trả nợ và hơn thế nữa là tránh được những rủi ro và các chi phí trong việc theo dõi các con nợ chậm trả”.
Theo từ điển thuật ngữ Ngân hàng của nhà biên soạn Hans Klaus thì “Bao thanh toán là một loại hình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nợ. Một doanh nghiệp chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ, thông thường là một công ty trực thuộc ngân hàng). Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản phải thu để hưởng phí và có lúc ứng trước giá trị của các khoản nợ. Thông thường công ty mua nợ phải chịu rủi ro mất khả năng thanh toán của món nợ”.
Theo Hiệp hội bao thanh toán quốc tế, bao thanh toán là một dịch vụ tài chính trọn gói, kết hợp việc tài trợ vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi nợ và thu hồi nợ. Đó là sự thoả thuận giữa đơn vị bao thanh toán và người bán, trong đó đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại khoản phải thu của người bán, thường là không truy đòi, đồng thời có trách nhiệm đảm bảo khả năng chi trả của người mua. Nếu người mua phá sản hay mất khả năng chi trả vì những lý do tín dụng thì đơn vị bao thanh toán sẽ thay người mua trả tiền cho người bán. Những quy định chung về hoạt động bao thanh toán quốc tế ấn bản tháng 06/2004 do Hiệp hội bao thanh toán quốc tế ban hành, thì hợp đồng bao thanh toán là một hợp đồng, theo đó nhà cung cấp sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu (hay một phần của các khoản phải thu) cho một đơn vị bao thanh toán, có thể vì hoặc không vì mục đích tài trợ, để thực hiện ít nhất một trong các chức năng sau đây: Kế toán sổ sách các khoản phải thu; Thu nợ các khoản phải thu; Phòng ngừa rủi ro nợ xấu.
-8 Tài trợ cho người bán, bao gồm việc cho vay lẫn việc ứng trước tiền thanh toán. Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành ngày 06/09/2004, bao thanh toán là “một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hoá giữa bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hoá”. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng nói một cách đơn giản nhất bao thanh toán được hiểu là sự chuyển nhượng nợ của người mua hàng (con nợ) từ người bán hay cung ứng dịch vụ (chủ nợ cũ) sang đơn vị bao thanh toán (chủ nợ mới). Đơn vị bao thanh toán đảm bảo việc thu nợ, tránh các rủi ro không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của người mua.
Đơn vị bao thanh toán có thể trả trước toàn bộ hay một phần các khoản nợ của người mua sau khi trừ đi một khoản hoa hồng tài trợ và phí thu nợ. Mọi rủi ro không thu được tiền hàng đều do người tài trợ gánh chịu.2 Bao thanh toán xuất khẩu Bao thanh toán xuất khẩu là một hình thức của bao thanh toán. Nhà xuất khẩu thực hiện việc chuyển nhượng khoản phải thu từ nhà nhập khẩu cho đơn vị bao thanh toán ngay tại nước nhà xuất khẩu. Thông thường, đơn vị bao thanh toán cung cấp chức năng tài trợ và bảo hiểm rủi ro khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán.
Bao thanh toán xuất khẩu có thể giúp nhà xuất khẩu vừa nhận được tiền ngay sau khi giao hàng, không phải bận tâm về rủi ro thanh toán từ phía nhà nhập khẩu, vừa tiết giảm khối lượng công việc ghi chép sổ sách và theo dõi quá trình thu nợ từ nhà nhập khẩu. Nhưng nhược điểm là khả năng nắm bắt thông tin về nhà nhập khẩu, luật pháp và tập quán của nhà nhập khẩu khó khăn, phức tạp. Những khó khăn trong việc tiếp xúc với phía nhập khẩu, rủi ro tín dụng và tranh chấp phát sinh là những vấn đề nghiêm trọng, vì thế chi phí cho việc bao thanh toán xuất khẩu thường rất cao. Các hình thức bao thanh toán Tùy thuộc vào tiêu chí phân loại, bao thanh toán được chia thành nhiều hình thức khác nhau.
Theo phạm vi thực hiện 1.1 Bao thanh toán trong nước (Domestic Factoring) Là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua, bán hàng hóa trong đó bên bán hàng và bên mua hàng là những đơn vị cư trú trong cùng một nước.2 Bao thanh toán quốc tế (International Factoring) Là nghiệp vụ bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất, nhập khẩu hàng hóa, các bên bán hàng và bên mua hàng là những đơn vị cư trú không cùng một nước.Vai trò của đơn vị bao thanh toán là thu tiền nợ từ nước ngoài bằng việc tiếp cận nhà nhập khẩu tại nước của họ hoặc thông qua đơn vị bao thanh toán nhập khẩu (là đơn vị bao thanh toán trung gian) bằng ngôn ngữ, sự thông hiểu pháp luật, văn hóa, tập quán kinh doanh của địa phương. Theo tính chất tài trợ 1. Bao thanh toán có truy đòi (with recourse factoring) là hình thức bao thanh toán, theo đó đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho nhà xuất khẩu khi nhà nhập khẩu không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu. Vì vậy, trong nghiệp vụ bao thanh toán có truy đòi, tổn thất chỉ thực sự xảy ra cho đơn vị bao thanh toán trong trường hợp khoản phải thu không được thanh toán và nhà xuất khẩu không thể bù đắp khoản thiếu hụt.