CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA NƯỚC RÁC 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NƯỚC RÁC 1. Khái niệm và cơ sở hình thành nước rác I. Khái niệm và nguồn gốc phát sinh 1.
Khái niệm Nước rác là nước phát sinh ở các bãi chôn lấp chất thải rắn có chứa các chất ô nhiễm từ trong rác thải thông qua các phản ứng hóa sinh học và một phần từ các nguồn khác như nước mưa, nước thấm ngấm…[37] 2. Nguồn gốc phát sinh Nước rác phát sinh chủ yếu từ một số nguồn chính như: Nước có trong rác chôn lấp và quá trình phân hủy rác: Lượng nước này phụ thuộc vào hàm ẩm có trong vật liệu mang chôn lấp và các quá trình phân hủy rác xảy ra trong bãi chôn lấp. Thông thường ở điều kiện Việt Nam, rác thải sinh hoạt thường có hàm ẩm khoảng 60-70%. Đây là lượng nước cơ bản để hình thành các phản ứng xảy ra trong bãi chôn lấp gây phát sinh nước rác.
Nước mưa: Nước mưa là nhân tố rất quan trọng trong việc hình thành nước rác. Hầu hết các bãi chôn lấp có diện tích rất lớn từ 5ha – 50 ha nên lượng nước mưa đi vào bãi chôn lấp cũng rất lớn. Tùy theo thời tiết, khí hậu từng mùa, lượng nước mưa ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng nước rác phát sinh và làm thay đổi lớn về đặc tính của nước rác. Nước mặt, nước ngầm: Nước mặt và nước ngầm có thể đi vào bãi chôn lấp làm tăng khối lượng nước rác chủ yếu là do các bãi chôn lấp được thiết kế gần các nguồn nước mặt, nước ngầm không được gia cố đúng kỹ thuật.
Khi mưa lũ, nước có thể thấm ngấm, tràn vào bãi chôn lấp. Tuy nhiên yếu tố này hiện này chỉ sảy ra với các bãi chôn lấp nhỏ và được thiết kế không theo quy chuẩn. Hầu hết các bãi chôn lấp quy mô lớn được thiết kế theo quy chuẩn. Nước có trong vật liệu phủ: Nước chứa trong vật liệu phủ phụ thuộc rất nhiều vào nguồn gốc loại vật liệu phủ và vào thời tiết khí hậu.
Khi đóng bãi, bên cạnh Tạ Văn Sơn Khóa 2005-2007 Luận văn cao học 4 sử dụng đất tại hiện trường, rác thải xây dựng làm vật liệu phủ thì hiện nay người ta còn dùng đến HDPE (tấm phủ bằng chất dẻo). Tuy nhiên lượng nước này không lớn và chỉ phát sinh trong một thời điểm mới phủ. Quá trình sinh học xảy ra trong bãi chôn lấp Giai đoạn đầu khi trong khối rác mới chôn lấp có oxy nên quá trình phân giải hiếu khí các hợp chất hữu cơ như sau [2,4]: + Oxy hóa không hoàn toàn: CaHbOcNd + mO2 → nCwHxOyNz +sCO2 + rH2O + (d-nz)NH3 + sinh khối + Q + Oxy hóa hoàn toàn: (4 a − b − c − 3d ) (4 a − b + 2c + 3d ) CaHbOcNd + O2 → aCO2 + H2O + dNH3+ SK + Q 4 8 Trong đó: C a HbOcNd là công thức hóa học tổng quan của chất hữu cơ có trong thành phần rác thải. Khi lượng oxy ở trong khối rác được sử dụng hết thì quá trình phân hủy sinh học chuyển sang giai đoạn phân hủy yếm khí theo phản ứng: Chất hữu cơ + H2O + Vi sinh vật → Sinh khối mới + Chất hữu cơ còn lại + CO 2 + H2S + NH 3 + CH4 +Q Theo các nghiên cứu của Gelirig (1990)[4] về sự phân giã và hình thành nước ríc ở nhiều bãi chôn lấp ở Đức những năm 70-80 của thế kỷ XX và của Gladchenko và Kalyuzhnyl tại các bãi chôn lấp ở Nga (2002)[24] cùng nhiều tác giả khác cho thấy: Quá trình phân hủy các chất hữu cơ, COD, BOD, TOC cũng như các chất vô cơ (AOX, SO 42-, Ca, Fe, Mn, Zn) .được chuyển hóa theo nhiều giai đoạn.
Quá trình chuyển hóa sinh học trong ô chôn lấp có thể được chia thành 5 giai đoạn chính: • Phân hủy sinh học hiếu khí. • Phân hủy sinh học yếm khí tạo axit. • Phân hủy sinh học yếm khí trung gian. • Phân hủy sinh học yếm khí tạo mêtan.
• Giai đoạn tạo humus. Tạ Văn Sơn Khóa 2005-2007 Luận văn cao học 5 Bảng 1. Khoảng thời gian phân hủy của các giai đoạn [4] Giai đoạn Thời gian Giai đoạn 1 Tính bằng giờ cho đến tuần Giai đoạn 2 1-6 tháng Giai đoạn 3 3 tháng đến 3 năm Giai đoạn 4 8 năm đến 40 năm Giai đoạn 5 Tối thiểu 40 năm Tổng Tối thiểu 80 năm Trong đó: Giai đoạn 1: Phân hủy sinh học hiếu khí Giai đoạn này có thời gian ngắn tuy nhiên quá trình phân hủy xảy ra rất mạnh đến khi hàm lượng oxy trong khối rác cạn kiệt. Trong giai đoạn này các VSV hiếu khí và tùy tiện có trong rác sẽ sinh trưởng phát triển và chuyển hóa các chất hữu cơ: Protein, Lipit, gluxit…thành các sản phẩm phân tử lượng nhỏ hơn như:Aminoaxit, đường, glyxerin, axit béo… sau đó oxy hóa một phần các sản phẩm này thành CO2, H 2O… Kết quả là nhiệt độ khối rác có thể lên tới 60 - 70ºC.
Các sản phẩm thủy phân và chuyển hóa khuyếch tán vào nước làm cho hàm lượng các chất hòa tan trong nước rác rất cao: • COD: 40. • Tỉ lệ BOD/COD :0,5 - 0,7 • Độ màu từ 8. • Độ kiềm, NH3 và H2S rất cao. Giai đoạn 2: Phân hủy yếm khí tạo axit Giai đoạn này do oxy trong khối rác đã cạn kiệt, các vi khuẩn yếm khí và tùy tiện phân hủy các hợp chất hữu cơ đơn giản như: đường, amino axit, xit béo,… thành các axit hữu cơ các chất trung tính như rượu, axeton.
làm cho pH của nước rác giảm đáng kể, nhiệt độ của khối rác cũng giảm. Theo kết quả nghiên cứu của Robinson (1989) thì nước rác trong giai đoạn này có giá trị COD khá cao (>10.000 mg/l) và có thể lên tới 70.000 mg/l, tỉ lệ Tạ Văn Sơn Khóa 2005-2007 Luận văn cao học 6 BOD/COD > 0,7, hàm lượng NH3 500 - 1.000 mg/l và có thể thấp hơn, pH trong khoảng từ 5 - 6 (hình 1. Cũng theo Robinson PH thấp dẫn đến khả năng hòa tan kim loại nặng tăng làm cho hàm lượng kim loại nặng trong nước rác giai đoạn này đạt cao nhất: Ca 2+ có thể lên tới 2.100 mg/l; Cr3+ 0,03-1,60 mg/l; Ni 0,02 - 2,05 mg/l; Zn 0,1 - 120,0 mg/l,. Giai đoạn 3: Phân hủy yếm khí trung gian Khi các axit hữu cơ bị khử, pH tăng dần các vi khuẩn metan hóa hoạt động mạnh lên.
Hàm lượng CH 4 tăng dần, trong khi đó các khí H 2, CO2, các axit béo, đặc biệt các axit béo và các hợp chất cacbon phân tử lượng lớn bay hơi giảm làm cho độ axit cũng giảm đáng kể. Độ pH tăng làm cho các kim ion loại như: Ca, Mn, Fe và các kim loại nặng ít hòa tan hơn. Nước rác giai đoạn này có COD còn cao: (COD = 700 - 28.000 mg/l), BOD5 đã giảm đáng kể (BOD 5 = 200 - 10.000 mg/l), do đó tương tác cũng biến động không có lợi cho xử lí sinh học (BOD/COD = 0,2 - 0,5 …) [4]. Giai đoạn 4: Phân hủy yếm khí tạo mêtan Trong giai đoạn này hàm lượng chất các hợp chất hữu cơ phân tử lượng nhỏ, đặc biệt là các axit hữu cơ bị khử làm cho pH giảm mạnh, pH đạt trong khoảng 6-8, đây là điều kiện tối ưu cho VK mêtan phát triển và hoạt động.
Đặc trưng cho giai đoạn này là lượng biogas tạo thành lớn, tỷ lệ CH 4 cao chiếm tới 60 - 70%. Nước rác trong giai đoạn này được đặc trưng bởi hàm lượng BOD5 rất thấp, đồng nghĩa với tỉ lệ BOD/COD nhỏ (< 0,2) [36]. Cuối giai đoạn mêtan hóa tỉ lệ giữa các chất khó phân hủy như Xenlulo, lignin, humic,…với BOD5 tăng đáng kể. Quá trình phân hủy chậm lại rõ rệt dẫn đến lượng CH 4 tạo thành giảm.
Quá trình chuyển hóa bước sang giai đoạn “tạo mùn (humus)”. Giai đoạn 5: Tạo humus Tạ Văn Sơn Khóa 2005-2007 Luận văn cao học 7 Ở giai đoạn này các chất hữu cơ chậm chuyển hóa như; Lignoxenlulo, lignin… được chuyển hóa thành axit humic, humics và các dẫn xuất của chúng với cấu trúc đa vòng, phân tử lượng lớ, khó hòa tan và rất khó phân hủy. mg/l axit béo. nh4 pH NH4+ COD n¨ m I II III IV V năm Hình 1.
Sự biến thiên nồng độ chất ô nhiễm trong nước rác theo thời gian [23] Tạ Văn Sơn Khóa 2005-2007 Luận văn cao học 8 1. Nguyên lý hình thành nước rác Quá trình hình thành nước rác phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: bản chất của rác, các điều kiện về khí hậu thời tiết, lượng mưa… nhưng đặc biệt quan trọng là quá trình phân hủy sinh học các chất hữu cơ trong rác. Để tính toán được lượng nước rác phát sinh cần thiết lập cân bằng nước cho một khối rác. wA 7 W CM WTS WLG w SW Wsw1 WE w SH WB(L) Hình 1.
Sơ đồ sự cân bằng nước rác cho 1 m 3 trong lớp rác [4] Trong quá trình tính toán, ta chỉ xét với bãi rác chôn lấp hợp vệ sinh do đó bỏ qua lượng nước mặt tràn qua thành và đáy bãi vào bãi chôn lấp, Phương trình cân bằng nước có thể biểu diễn như sau [4]: ΔSSW = WA + WTS + WSw + WSh + WCM - W Sw1 -WLG – WE - WB(L) Trong đó: ΔSSW : Lượng nước phát sinh ở bãi chôn lấp (kg/m3) WA: Lượng nước thấm từ phía trên (kg/m 3) Tạ Văn Sơn Khóa 2005-2007 Luận văn cao học 9 WTS: Độ ẩm của vật liệu phủ bề mặt (kg/m3) WSw, WSw1: Độ ẩm ban đầu của rác thải và hàm ẩm sau nén (kg/m 3) WSH: Nước hình thành từ phản ứng sinh hóa (kg/m3) WCM: Độ ẩm ban đầu vật liệu phủ trung gian và phụ liệu (kg/m3 ) WLG: Lượng nước tiêu thụ trong quá trình hình thành khí bãi rác (kg/m3) WE : Lượng nước thất thoát do quá trình hơi hóa bề mặt (kg/m3) WB(L): Lượng nước thấm ngấm đáy bãi (kg/m3) Từ phương trình cân bằng nước, các số liệu về lượng mưa, độ bốc hơi, hệ số giữ nước của rác sau khi nén trong bãi rác, lượng nước rác có thể được tính theo mô hình vận chuyển một chiều của rò rỉ xuyên qua rác nén và đất bao phủ theo phương trình sau: Q =M (W1 −W2 ) +[ P(1 − R) − E]* A Trong đó: Q :khối lượng nước rác theo tính toán (m3/ngày.