CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền công nghiệp nước ta, tình hình ô nhiễm môi trường gia tăng đến mức báo động. Do đặc thù của nền công nghiệp mới phát triển, chưa có sự quy hoạch tổng thể và nhiều nguyên nhân khác nhau như: điều kiện kinh tế của nhiều xí nghiệp còn khó khăn hoặc do chí phí xử lý ảnh hưởng đến lợi nhuận nên hầu như chất thải công nghiệp chưa được xử lý mà thải thẳng ra môi trường. Hiện nay có khoảng hơn 500.000 chất bẩn khác nhau tồn tại trong môi trường nước, trong đó thuốc nhuộm sử dụng trong các ngành may mặc,…ảnh hưởng đến môi trường [1].
Do đặc thù của nghề dệt nhuộm là sử dụng rất nhiều hóa chất và thuốc nhuộm, nên nước thải dệt nhuộm thường có màu cao, chứa các tạp chất tách ra từ xơ sợi (dầu mỡ, các hợp chất chứa nitơ, các chất bẩn dính vào sợi), các hóa chất dùng trong công nghệ dệt nhuộm (hồ tinh bột, tinh bột biến tính, dextrin, alginat. Khoảng 10 – 30% lượng thuốc nhuộm và hóa chất sử dụng bị thải ra ngoài cùng với nước thải. Nếu những chất này được xả trực tiếp vào nước sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng tới hệ sinh thái và môi trường sống xung quanh. Độ màu cao do lượng thuốc nhuộm dư trong nước thải sẽ gây màu cho nguồn tiếp nhận, độ màu có khả năng làm cản trở ánh sáng và làm chậm các quá trình quang hợp, ức chế sự phát triển và sinh sản của sinh vật.
Khi pH > 9 sẽ gây độc hại đối với thủy sinh, gây ăn mòn các công trình thoát nước và hệ thống xử lý nước thải. Do những ảnh hưởng trên, nhiều phương pháp đã được áp dụng để xử lý các thành phần ô nhiễm kim loại trong nước thải như xử lý bằng Chitosan [4], xử lý bằng nấm men Saccharomyces cerevisiae [5], xử lý bằng vật liệu nano kết hợp với biogum [6]. Ngoài những phương pháp trên, phương pháp xử lý nước thải bằng than biến tính đang được áp dụng rộng rãi do hiệu suất xử lý cao, vật liệu xử lý thân thiện với môi trường. Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng Nano than Macadamia hoạt tính K2CO3 kết hợp nZVI để xử lý màu Methylene Red” được đề xuất.
Mục tiêu đề tài - Chế tạo than hoạt tính từ hạt Mắc-ca bằng tác nhân hóa học K2CO3. - Khảo sát khả năng xử lý màu MR nước thải của vật liệu có nguồn gốc sinh học là nano than Macadamia hoạt tính K2CO3 kết hợp sắt hóa trị không để xử lý màu MR trong nước thải giả định GVHD: TS. Đào Minh Trung Trang 1 Nghiên cứu ứng dụng Nano than Macadamia hoạt tính K2CO3 kết hợp nZVI để xử lý màu Methylene Red 1. Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Điều chế nano than hoạt tính từ vỏ hạt Mắc-ca bằng tác nhân hóa học K2CO3.
Nội dung 2:Điều chế Nano than hoạt tính từ vỏ hạt Mắc-ca bằng tác nhân hóa học K2CO3 kết hợp với sắt hóa trị không. Nội dung 3: Khảo sát khả năng xử lý màu MR của Nano than hoạt tính từ vỏ hạt Mắc-ca bằng tác nhân hóa học K2CO3 kết hợp với sắt hóa trị không (khảo sát pH, liều lượng, thời gian). Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: - Nước thải giả định nhiễm màu MR.
- Nano than hoạt tính từ vỏ hạt Mắc-ca bằng tác nhân hóa học K2CO3 kết hợp với sắt hóa trị không. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện tại phòng thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu - thực nghiệm Đại học Thủ Dầu Một. Phòng thí nghiệm Trường Đại học Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh. Phòng thí nghiệm Trường Đại học Việt Đức.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả thực hiện đề tài đã chứng tỏ việc ứng dụng Nano than hoạt tính từ vỏ hạt Mắc-ca bằng tác nhân hóa học K2CO3 kết hợp với sắt hóa trị không trong việc xử lý nước thải giả định nhiễm màu là rất khả quan và là cơ sở khoa học để triển khai trong xử lý nước thải nhiễm màu thực tế. Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần giải quyết được các vấn đề ô nhiễm màu trong nước thải. - Việc thay thế các công nghệ xử lý bằng vật liệu than biến tính sinh học có ý nghĩa bảo vệ môi trường và góp phần giải quyết tình trạng phát sinh chất thải rắn trong sản xuất nhân hạt Mắc-ca.
Đào Minh Trung Trang 2 Nghiên cứu ứng dụng Nano than Macadamia hoạt tính K2CO3 kết hợp nZVI để xử lý màu Methylene Red CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về Mắc-ca Mắc ca (tên đầy đủ là macadamia) là loài cây gỗ lớn, có nguồn gốc ở vùng rừng mưa ven biển thuộc miền Nam Queensland và miền Bắc New South Wales ở Australia, giữa vĩ độ 250 và 330 Nam. Năm 1881 mắc ca được đưa tới trồng ở Hawaii, vào thời gian đó chúng được sử dụng như một cây trồng rừng.
Năm 1948, Trạm nghiên cứu nông nghiệp Hawaii đã đầu tư nghiên cứu về lĩnh vực giống và đã tạo ra các dòng có nhiều triển vọng làm tiền đề cho công nghiệp mắc ca hiện đại ở Hawaii như ngày nay. Ở California hai cây mắc ca đầu tiên được trồng vào đầu thập niên 1880 trong sân Berkeley thuộc đại học tổng hợp California. Năm 1950 California mới bắt đầu nhập khẩu một số giống đã được cải tiến từ Hawaii. Tại Trung Quốc, cây mắc ca đã có mặt ở vườn thực vật Đài Loan từ đầu thế kỷ 20, nhưng việc trồng đại trà mới thực hiện trong khoảng 20 năm gần đây [146].
Cây mắc ca có tên gọi chung là Macadamia hoặc Australia nut hoặc Queenland nut, gồm hai loài là: loài vỏ hạt trơn (Macadamia integrifolia Maiden & Betche) và loài vỏ hạt sần (Macadamia tetraphylla L. Jhonson) và giống lai giữa hai loài này. Cũng có thể phân biệt giữa 2 loài mắc ca này dựa vào số lá trên một đốt thân. Với loài vỏ láng (Macadamia integrifolia), trên mỗi đốt thân thường có 3 lá; loài vỏ nhăn (Macadamia tetraphylla) thường có 4 lá trên mỗi đốt thân [146].
Năm 1994, cây Mắc-ca được trồng thử nghiệm ở Ba Vì (Hà Nội). Đến nay chúng được trồng rộng rãi ở nhiều nơi đặc biệt là vùng Tây Nguyên. Cây Mắc-ca là loại cây cho quả khô quý hiếm, nhân Mắc-ca có hàm lượng dầu 78% với trên 87% là axit béo không no, hàm lượng protein trong nhân tới 9.2% gồm 20 loại axit amin, ngoài ra nhân Mắc-ca có chứa nhiều chất đường bột, chất khoáng và nhiều loại vitamin [7]. Vỏ hạt Mắc-ca có thể làm than hoạt tính khi đốt ở nhiệt độ cao.
Vỏ hạt Mắc-ca có diện tích bề mặt cao hơn các loại vỏ hạt khác và hàm lượng tro của chúng rất thấp (dưới 1%) [8]. Ở Việt Nam, Cây mắc ca bắt đầu được trồng tại Tây Bắc từ năm 2002. Sau 10 năm nghiên cứu, thử nghiệm trên hàng loạt các vùng địa lý và khí hậu của Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã xác định được hai vùng có thể trồng được mắc ca, đó là Tây Bắc và Tây Nguyên. Đây là hai vùng khí hậu đặc biệt thuận lợi cho cây mắc ca sinh trưởng và cho năng suất cao.
Hai vùng khí hậu này có thời tiết lạnh về mùa xuân (14 - 17°C) điều kiện cần để cây ra hoa và không có mưa phùn là điều kiện để hoa thụ phấn và kết quả [146]. Đào Minh Trung Trang 3 Nghiên cứu ứng dụng Nano than Macadamia hoạt tính K2CO3 kết hợp nZVI để xử lý màu Methylene Red Hiện nay, diện tích mắc ca trồng thử và dự án khuyến lâm theo chương trình của Bộ Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn ở Tây Bắc và Tây Nguyên là khoảng 520 ha. Ngoài ra, diện tích do các tổ chức, cá nhân tại các địa phương khác trồng khoảng 1.920 ha (trong đó ở Tây Bắc gần 280 ha, Tây Nguyên khoảng 1. Như vậy, tổng diện tích cây mắc ca cả nước đến nay khoảng 2.
Tại Lâm Đồng có khoảng 15 giống mắc ca được trồng. Sau 9 năm trồng, một số giống có năng suất đạt từ 7 - 9 kg hạt/cây, cá biệt có những cây cho năng suất trên 10 kg hạt/cây; dự báo khả năng từ năm thứ 12 trở lên - giai đoạn kinh doanh chính thức, năng suất có thể đạt đến 12 - 15 kg hạt/cây, tương đương với năng suất của mắc ca ở vùng nguyên sản Úc. Tuy nhiên, quy mô trồng mắc ca hiện tại của bà con nông dân còn nhỏ lẻ, phân tán nên sản lượng không nhiều [146]. Như vậy, tổng diện tích cây mắc ca cả nước đến nay khoảng 2.
Không triển khai trồng cây này trên quy mô lớn trong các khu vực chưa được trồng khảo nghiệm khẳng định hiệu quả; tổng diện tích trồng cây mắc ca cả nước đến năm 2020 khoảng 10. Theo Penoni et al., (2011) [9] cho thấy đối với mỗi tấn hạt Mắc-ca tạo ra 70 – 77% vỏ. Hằng năm các công ty chế biến hạt ở Việt Nam sản xuất ra hàng nghìn tấn hạt và thải ra hàng chục nghìn tấn vỏ. Vỏ có thể được một số công ty mỹ nghệ mua về làm đồ thủ công nhưng chiếm tỉ lệ rất nhỏ.
Phần lớn chúng được đem bỏ hoặc làm nhiên liệu đốt. Trong bài nghiên cứu của Rakesh Kumar et al., (2013) [10], hàm lượng cellulose trong vỏ là khá cao chiếm khoảng 41.2%, điều này cho thấy vỏ Mắc-ca rất thích hợp để làm vật liệu sản xuất than hoạt tính. Vào năm 2015, nhóm nghiên cứu của Martins, A., đã điều chế thành công than hoạt tính từ vỏ Mắc-ca đạt được hiệu suất xử lí khá cao [11]. Thành phần vỏ hạt Mắc – ca Phân tích nguyên tố Độ ẩm Tỷ trọng Tro (%) C (%) H (%) N (%) O (%) (%) (g.
Đào Minh Trung Trang 4 Nghiên cứu ứng dụng Nano than Macadamia hoạt tính K2CO3 kết hợp nZVI để xử lý màu Methylene Red 2. Tổng quan về than hoạt tính Than hoạt tính có thành phần chủ yếu là cacbon chiếm 85% đến 95%, thành phần còn lại là các hợp chất vô cơ. Chúng được điều chế khi đốt các nguyên liệu cho ra cacbon. Do vậy nguồn nguyên liệu để sản xuất than hoạt tính khá phong phú.
Than hoạt tính được chế tạo từ những nguyên liệu giàu cacbon như các loại quả, các loại thực vật (gỗ, mùn cưa,…), sọ dừa, gỗ, mạt cưa, các loại có nguồn gốc từ than mỏ như than antraxit, than bùn, than nâu, than bán cốc, hoặc từ các hợp chất hữu cơ như polime, lignin, dầu mỏ,… Than hoạt tính có diện tích bề mặt rất lớn từ 500 – 2500 m2/g. Vì thế chúng là một chất lý tưởng dùng để hấp phụ nhiều loại chất ô nhiễm [12].