CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC SỬA CHỮA NÂNG CẤP CÁC CÔNG TRÌNH BÊ TÔNG CỐT THÉP.1 Công tác tu bổ sửa chữa, nâng cấp công trình bê tông cốt thép. Ngày nay kết cấu bêtông cốt thép đã được sử dụng phổ biến để xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp, giao thông, thủy lợi, quốc phòng v. Cùng với nhiều đặc điểm ưu việt loại kết cấu này còn có không ít những nhược điểm, khuyết tật và những sự cố xảy ra trong quá trình xây dựng và sử dụng do những nguyên nhân khác nhau. Việc sửa chữa và gia cố kết cấu là cần thiết để duy trì hoặc nâng cao khả năng chịu tải cũng như công năng sử dụng của công trình.
Hàng năm Nhà nước và nhân dân đã bỏ ra một chi phí khá lớn cho công việc trên. Phần lớn các công trình cần gia cố sửa chữa là những công trình đã được sử dụng một thời gian dài, nay bị hư hỏng, bị xuống cấp. Tuy vậy cũng có không ít công trình bị hư hỏng rất sớm sau khi hoàn thành, thậm chí có công trình bị hư hỏng khi đang thi công. Công trình bị hư hỏng không những phải sửa chữa tốn kém mà nhiều lúc còn gây ra tâm trạng khó chịu, căng thẳng cho người quản lý và sử dụng.
Kiến thức về sửa chữa và gia cố công trình là rất cần thiết nhưng hiện nay trong nhiều trường đào tạo cán bộ kỹ thuật xây dựng chưa giảng dạy môn học như vậy.1 Tình hình chất lượng sửa chữa, nâng cấp công trình bê tông cốt thép nói chung hiện nay ở nước ta. Từ khi được chế tạo cho đến hết thời gian sử dụng, kết cấu bêtông cốt thép khó tránh khỏi tình trạng xuống cấp và những hư hỏng xảy ra nếu không kịp thời sửa chữa, nâng cấp nhưng hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau mà có nhiều công trình đã phải sửa đi sửa lại nhiều lần để phục hồi khả năng chịu tải cũng như hiệu năng sử dụng của công trình. Vấn đề quan trọng gây ra không đảm bảo chất lượng công trình, thường xuất hiện từ những nội dung sau: 3 Do việc đánh giá nguyên nhân thiếu chính xác, dùng biện pháp không thích hợp do không có tiêu chuẩn quy định rõ ràng và chất lượng công việc sửa chữa không bảo đảm. Trong thi công, nhà thầu không thực hiện đúng các quy trình quy phạm kỹ thuật đã dẫn đến sự cố công trình xây dựng: Không kiểm tra chất lượng, quy cách vật liệu trước khi thi công.
Không thực hiện đúng trình tự các bước thi công. Vi phạm các quy định về tổ chức, quản lý, kỹ thuật thi công. Cụ thể: - Khối lượng và chất lượng vật liệu: Vi phạm phổ biến của các nhà thầu là hạ cấp chất lượng vật liệu. Đặc biệt, việc hạ cấp chất lượng vật liệu thực sự là khó kiểm soát khi không có các mô hình giám sát quản lý chất lượng hiệu quả.
Trong cuộc đấu thầu gần đây có nhiều công trình có giá trúng thầu rất thấp so với giá dự toán được duyệt. Thậm chí có những nhà thầu bỏ thầu thấp hơn rất nhiều so với chi phí cần thiết. Do không có giám định về giá cả vật liệu nên các nhà thầu có thể đưa ra các chỉ tiêu chất lượng cao và giá thấp để trúng thầu. Song khi thực hiện thi công xây lắp các nhà thầu đã giảm mức chất lượng, chủng loại, xuất xứ, đưa các thiết bị, vật liệu chất lượng kém vào trong công trình và tìm cách bớt xén các nguyên vật liệu để bù chi phí và có một phần lợi nhuận.
- Chất lượng biện pháp thi công: Trong hồ sơ đấu thầu xây lắp, hầu hết các nhà thầu đều đưa ra được phần thuyết minh biện pháp thi công hoàn hảo với một lực lượng lao động hùng hậu, thực tế lại không như vậy. Lực lượng công nhân phổ biến ở các công trường hiện nay hầu hết là thợ “nông nhàn”. Việc sử dụng lực lượng lao động này là một điều rất đáng lo ngại, không những ảnh hưởng tới chất lượng công trình mà còn có nguy cơ để xảy ra tai nạn lao động nhiều nhất. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật cũng được sử dụng 4 không đúng với chuyên môn.
Nhiều các kỹ sư vật liệu trẻ mới ra trường không có việc làm lại được thuê làm kỹ thuật giám sát kiểm tra thi công. Chính vì sử dụng những lực lượng lao động như vậy đã làm cho công trình không đảm bảo chất lượng. Biện pháp thi công không phù hợp luôn chứa đựng yếu tố rủi ro về chất lượng; có khi còn gây ra những sự cố lớn không lường. Vi phạm khá phổ biến trong giai đoạn thi công là sự tùy tiện trong việc lập biện pháp và qui trình thi công.
Những sai phạm này phần lớn gây đổ vỡ ngay trong quá trình thi công và nhiều sự cố gây thương vong cho con người cũng như sự thiệt hại lớn về vật chất.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sửa chữa, nâng cấp công trình bê tông cốt thép: 1.1 Năng lực chuyên môn: Nếu yếu kém về năng lực chuyên môn. không đủ kiến thức và kinh nghiệm cũng như thiếu thông tin trong lĩnh vực xâv dựng thì sẽ dẫn đến công trình hư hỏng và đổ vỡ.2 Công tác khảo sát địa hình: Công tác khảo sát để phục vụ cho thiết kế bao gồm khảo sát địa hình, địa chất công trình, địa chất thủy văn, mội trường khí hậu thủy văn, môi trường xây dựng tại khu vực xây dựng công trình. Trong số những sự cố công trình trong những năm gần đây, những sự cố do nguyên nhân sai sót trong khâu khảo sát chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Kết cấu bêtông cốt thép cũng rất nhạy cảm với khí hậu thời tiết và môi trường công nghiệp.
Môi trường khí hậu thời tiết như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, hướng và tốc độ gió v. đều là các yếu tố quan trọng tác động lên kết cấu bêtông cốt thép. Đặc biệt là môi trường công nghiệp như khí thải hoặc nước thải có chứa tác nhân ăn mòn cũng như các đặc điểm hoạt động của công nghiệp như nhiệt độ, độ ẩm, rung động hoặc nguy cơ cháy nổ là những nguyên nhân quan trọng dẫn đên tình trạng xuống cấp hoặc hư hỏng của kết cấu bêtông cốt thép. Như vậy, khi không có sự phối hợp hoặc phối hợp không chặt chẽ giữa người khảo sát với người thiết kế, các số liệu khảo sát cung cấp cho thiết kế có thể thiếu hoặc không đủ tin cậy dẫn đến tình trạng sai sót trong thiết kế, đặc biệt là các giải pháp bảo vệ kết cấu không phù hợp, không bảo vệ được 5 kết cấu trước sự tác động của ngoại lực cũng như của môi trường xung quanh, tuổi thọ kết cấu do đó sẽ bị suy giảm.3 Công tác thiết kế: Trong thiết kế nếu sai sót trong các khâu: Số liệu ban đầu, các giải pháp kết cấu vật liệu, tính toán kết cấu và lập bản vẽ chi tiết, kiểm tra và giám sát thực hiện thì sẽ dẫn đến ảnh hưởng chất lượng công trình được thiết kế.
Những số liệu ban đầu: Những số liệu này là căn cứ pháp lý cho người thiết kế thực hiện. Từ sơ đồ dây chuyền công nghệ, bố trí thiết bị, không gian kiến trúc và đặc điểm khai thác vận hành của công trình, xác lập sơ đồ kết cấu. Với những số liệu không đầy đủ và thiếu chính xác dẫn tới những sai lầm trong việc xác định tải trọng, lập sơ đồ tính toán, xác định nội lực và cấu tạo chi tiết. Có những công trình mới xây dựng đã phải gia cố do thay đổi yêu cầu sử dụng.
Có những công trình sửa chữa nâng cấp xong vẫn bị ăn mòn trầm trọng vì khi thiết kế không nắm được tính chất của dây chuyền công nghệ có khả năng gây ăn mòn kết cấu. Các số liệu khảo sát về địa chất công trình, địa chất thủy văn, khí hậu cung cấp cho thiết kế có ảnh hưởng quyết định đến các giải pháp xử lý nền móng cũng như kết cấu công trình. Những sự cố thường tiếp tục xảy ra sau khi sửa chữa nâng cấp khi các số liệu thiếu chính xác hoặc người thiết kế chưa biết khai thác những số liệu được cung cấp. Nhiều công trình bị lún sụt nặng nề do không nắm được cấu trúc các tầng đất dưới đế móng, nhiều cuộc xử lý nền cọc rất tốn kém đã được tiến hành do bỏ sót hiện tượng cáctơ hoặc những biến động địa chất có liên quan đến xây dựng nền móng đã chỉ rõ tầm quan trọng của tính chính xác và chi tiết các số liệu khảo sát địa chất công trình.
Giải pháp kết cấu và vật liệu: Kết cấu móng Những sai sót của giải pháp kết cấu nền móng là yếu tố quan trọng dẫn đến các sự cố công trình sửa chữa nâng cấp. 6 Móng bêtông cốt thép thường thuộc loại móng mềm, về mặt chịu tải móng làm việc không khác với cấu kiện chịu uốn khác. Tuy vậy do liên quan đến nền đất cho nên kết cấu móng có thể gặp phải một số bất hợp lý trong thực tế thiết kế và xây dựng làm ảnh hưởng đến chất lượng toàn bộ công trình. Về mặt chịu lực: Có thể vì một lý do nào đấy, móng chịu tác động lệch tâm quá lớn mà không có biện pháp phân phối bớt mômen tại đế móng, ứng suất cực đại của nên đất dưới đế móng có thể vượt quá khả năng chịu tải cua nền đất , có thể gây lún lệch rất nguy hiểm cho công trình.
Kết cấu các phần thân công trình Giải pháp kết cấu, đối với kết cấu bêtông cốt thép có thể là kết cấu bêtông cốt thép đổ tại chỗ, kết cấu bêtông cốt thép lắp ghép và kết cấu bêtông cốt thép ứng lực trước. Kết cấu bêtông cốt thép đổ tại chỗ thường có dạng siêu tĩnh, có độ cứng cao được ứng dụng rộng rãi tuy nhiên khá nhạy cảm với độ lún lệch. Nếu trong tính toán không đề cập đến hiện tượng này, khi móng đặt trên nền đất yếu hoặc không đồng nhất, kết cấu có thể bị nứt khi độ lún lệch vượt quá giới hạn cho phép. Đối với kết cấu bêtông cốt thép lắp ghép tuy ít nhạy cảm hơn do hiện tượng lún lệch nhưng các mối nối giữ một vai trò rất quan trọng.
Trong điều kiện ẩm ướt hoặc môi trường ăn mòn, các mối nối không được bảo vệ tốt rất dễ bị ăn mòn làm cho kết cấu mất khả năng làm việc.