CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÀI TOÁN CỐ KẾT THẤM MỘT CHIỀU CỦA ĐẤT YẾU DƯỚI TẢI TRỌNG NỀN ĐẮP ĐƯỜNG ÔTÔ VÀ KHÁI NIỆM VÙNG HOẠT ĐỘNG CỐ KẾT THEO THỜI GIAN 1. BÀI TOÁN CỐ KẾT THẤM MỘT CHIỀU VÀ ỨNG DỤNG TRONG BÀI TOÁN TÍNH ĐỘ LÚN CỐ KẾT CỦA ĐẤT YẾU DƯỚI TẢI TRỌNG NỀN ĐẮP. Bài toán cố kết thấm một chiều. Để mô phỏng quá trình cố kết thấm của nền đất sét yếu bão hòa nước theo không gian và thời gian, K.Terzaghi đã thành lập một phương trình đạo hàm riêng cơ bản để mô tả quá trình cố kết thấm của đất yếu với các giả thiết sau: - Đất sét xem như hoàn toàn bão hòa nước, trong đất không có khí kín hoặc nếu có cũng chiếm một vị trí rất nhỏ có thể bỏ qua.
- Nước trong lỗ rỗng và các hạt rắn (hạt đất) đều không chịu nén. - Biến dạng của đất cũng như sự thoát nước lỗ rỗng theo một chiều và theo hướng của áp lực tác dụng (theo chiều thẳng đứng). - Tốc độ dòng thấm của nước lỗ rỗng rất nhỏ có thể áp dụng định luật Darcy: q = ki (q là tốc độ thấm i là gradient thủy lực). - Hệ số thấm k và hệ số nén chặt a của đất với phạm vi biến thiên đang xét của áp lực coi như không đổi trong quá trình cố kết.
- Nước chỉ thoát khỏi lỗ rỗng theo phương thẳng đứng z còn bỏ qua lượng nước thoát ra theo các phương khác (bài toán cố kết thấm 1 chiều). Khi đó phương trình cố kết thấm một chiều như sau: 𝜕𝑢 𝜕2𝑢 = 𝐶𝑣 2 (1 - 1) 𝜕𝑡 𝜕 𝑧 Với các điều kiện biên - Về không gian: z = 0 với 0 t ∞ → u = 0; (1 - 2) z = h với 0 t ∞ → u / z 0 (1 - 3) - Về thời gian: Cán bộ hướng dẫn: GS.TS Dương Học Hải Trang 6 Học viên: Nguyễn Đức Nghiêm Chuyên ngành: Đường ôtô và đường thành phố TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC t = 0 với 0 < z h → u = z (1 - 4) t = ∞ với 0 z h → u = 0 (1 - 5) Chú ý: Đối với trường hợp nền có hai mặt thoát nước thì chiều dầy tính toán h ở trên sẽ bằng nửa chiều dầy lớp đất yếu (hđ.yếu /2 hoặc za/2). Bài toán cố kết thấm một chiều trường hợp sơ đồ 0 Trường hợp sơ đồ 0 là trường hợp tải trọng phân bố đều, liên tục và kín khắp mặt đất (coi như tải trọng phân bố đều vô hạn). Trong trường hợp này để giải bài toán cố kết thấm một chiều ta vẫn sử dụng phương trình đạo hàm riêng (1 - 1) với các điều biên từ (1 - 2) đến (1 - 5).
Nhưng vì tải trọng phân bố vô cùng nên z = p ở mọi độ sâu nền điều kiện biên (1 - 3) trở thành: t = 0 với 0 < z h → u = z = p = const. Bằng phương pháp giải tích bài toán cố kết thấm một chiều trường hợp sơ đồ 0 đã được giải và được nghiệm là hàm u(z, t) cho dưới dạng chuỗi Furier như sau: t (( 2 n 1 )) 2 2n 1 Cv 2 4p 1 2n 1 2h 4h2 u ( z, t ) sin z .e (1 - 6) Trong đó: Cv là hệ số thấm của nền đất yếu h là chiều dầy lớp đất yếu hoặc vùng gây lún Bài toán cố kết thấm một chiều trường hợp tải trọng phân bố hình thang. Đối với trường hợp tải trọng đắp hình thang thì ta không tìm được nghiệm kín (theo kết luận của [12], [13]), tức là không tìm được biểu thức giải tích cho hàm u(z, t) mà từ trước đến nay để giải bài toán này các tác giả thường phải dùng đến phương pháp số (trong [4] khi giải bài toán này đã dùng phương pháp sai phân hữu hạn). Ứng dụng bài toán cố kết thấm một chiều trong việc dự báo độ lún cố kết theo thời gian của đất yếu dưới tải trọng nền đắp trong công tác thiết kế hiện nay.
Cho đến nay kết quả của bài toán cố kết thấm một chiều u(z, t) thường được sử dụng để xác định độ cố kết trung bình U cho cả vùng đất yếu bão hoàn nước có chiều dầy là h theo công thức (1 - 7) dưới đây: Cán bộ hướng dẫn: GS.TS Dương Học Hải Trang 7 Học viên: Nguyễn Đức Nghiêm Chuyên ngành: Đường ôtô và đường thành phố TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC 𝑎 𝑆𝑡 ∫ 1 + 𝑒 [𝑝𝑧 − 𝑢(𝑧, 𝑡 )]𝑑𝑡 1 𝑈= = 𝑎 (1 - 7) 𝑆∞ ∫ 1 + 𝑒 𝑝𝑧 𝑑𝑡 1 Trong đó pz là hàm ứng suất tổng phân bố theo chiều sâu z do tải trọng ngoài gây ra trong đất bão hòa nước với sơ đồ O thì pz= p =const. Ở đây pz - u(z,t) chính là hàm ứng suất có hiệu tác dụng lên các hạt đất trong quá trình cố kết và S t a p z u( z, t )dt là độ lún của lớp đất bão hòa nước dày h do tải 1 e1 trọng ngoài p gây ra trong thời gian t. Trong đó a là hệ số nén chặt trung bình và e1 là hệ số rỗng ban đầu của lớp đất đó. Vì đến khi quá trình cố kết kết thúc phải có u(z, t)=0, do vậy ta có độ lún tổng a cộng cuối cùng (ứng với t=∞) S p z dt 1 e1 Với u(z, t) đã xác định theo các biểu thức (1 - 6), sau khi tính tích phân (1 - 7) ta được độ cố kết trung bình U theo dạng chuỗi như sau: Cv t Cv t 2 2 8 1 9 U 1 (e 4h2 e 4h2 .) (1 - 8) 2 9 Trong ứng dụng có thể tính U tại mỗi thời điểm t bất kỳ bằng công thức trên hoặc sử dụng bảng tra đã được tính sẵn tại một số thời điểm (Bảng 1.
Với các thời điểm không có trong bảng tra được tính bằng cách nội suy tuyến tính.1: Độ cố kết đạt được tuỳ thuộc vào nhân tố Tv = Cvt/h2 (Uv = f (Tv)), trong trường hợp sơ đồ 0. Tv = Cvt/h2 0,004 0,008 0,012 0,020 0,028 0,036 0,048 U 0,080 0,104 0,125 0,160 0,189 0,214 0,247 Tv = Cvt/h2 0,060 0,072 0,100 0,125 0,167 0,200 0,250 U 0,276 0,303 0,357 0,399 0,461 0,504 0,562 Tv = Cvt/h2 0,300 0,350 0,400 0,500 0,600 0,800 1,000 U 0,631 0,650 0,698 0,764 0,816 0,887 0,931 Độ lún cố kết do tải trọng phân bố đều p gây ra trong đất yếu có bề dầy h sau một thời gian duy trì tải trọng t sẽ được tính theo công thức. Cán bộ hướng dẫn: GS.TS Dương Học Hải Trang 8 Học viên: Nguyễn Đức Nghiêm Chuyên ngành: Đường ôtô và đường thành phố TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC St = U.1 không tìm được biểu thức giải tích của u(z, t) mà phải dùng phương pháp số. Khi đó khối lượng tính toán sẽ rất lớn và thường phải sử dụng các phần mềm lập sẵn, không thuận tiện trong quá trình tính toán.
Chính vì lý do đó, ở các giáo trình cơ học đất hay Quy trình khảo sát, thiết kế đường ôtô đắp trên đất yếu 22TCN 262-2000 vẫn áp dụng công thức (1 - 9) với U lại được xác định trong trường hợp sơ đồ 0 để tính độ lún cố kết theo thời gian cho nền đường ôtô. Như vậy, ở một mức độ nào đó khi áp dụng như vậy sẽ mắc thêm một sai số do việc áp dụng không đúng mô hình tải trọng (sử dụng kết quả bài toán sơ đồ 0, tải trọng phân bố vô cùng áp dụng cho trường hợp tải trọng phân bố hình thang). Đặc biệt trong trường hợp chiều rộng nền càng nhỏ sai số này sẽ càng tăng lên. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ BÀI TOÁN CỐ KẾT THẤM MỘT CHIỀU ĐÃ THỰC HIỆN, KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VÙNG HOẠT ĐỘNG CỐ KẾT THEO THỜI GIAN.
Các kết quả nghiên cứu về bài toán cố kết thấm một chiều đã được thực hiện và khái niệm vùng hoạt động cố kết theo thời gian. Cho đến nay đã có một số nghiên cứu liên quan đến bài toán cố kết thấm một chiều và vùng hoạt động cố kết theo thời gian, trong đó có hai nghiên cứu tiêu biểu: Thứ nhất, tài liệu [3], luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Đức Sĩ - Nghiên cứu một số vấn đề về tính toán lún theo thời gian và xử lý lún nền đường ôtô đắp trên đất yếu, tháng 1, năm 2005. Thứ hai, tài liệu [4], luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Hương Thảo - Khảo sát sự thay đổi áp lực nước lỗ rỗng dư trong lời giải bài toán cố kết thấm theo sơ đồ 0 và vùng hoạt động cố kết theo thời gian, năm 2006. a Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Đức Sĩ Trong luận án này tác giả đã giải bài toán cố kết thấm một chiều với trường hợp tải trọng hình thang.
Bằng phương pháp sai phân hữu hạn, trong [3] đã lập phần mềm tính toán được giá trị u(z, t) có dạng phân bố như hình 1. Cán bộ hướng dẫn: GS.TS Dương Học Hải Trang 9 Học viên: Nguyễn Đức Nghiêm Chuyên ngành: Đường ôtô và đường thành phố TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC A Hình 1.1: Dạng phân bố của u(z, t) tại tim đường trong trường hợp tải trọng phân bố hinh thang. Từ hình vẽ ta thấy ở một số thời điểm ban đầu (t = 30, 60, 120 ngày.) thì u chỉ giảm đáng kể ở một độ sâu z nào đó trở lên. Ví dụ với thời điểm t1 = 30 ngày độ giảm của áp lực nước lỗ rỗng ở điểm A là u(zA, t0) - u(zA, t1) được coi là nhỏ so với áp lực lỗ rỗng ban đầu ngay khi mới chất tải u(zA, t0) và cũng bằng σzat khi đó ta có thể chia vùng đất yếu chia thành hai vùng.
Vùng 1 từ điểm A trở lên là vùng có áp lực nước lỗ rỗng thay đổi đáng kể (vùng thực sự có hoạt động cố kết xẩy ra); Vùng 2 là vùng từ điểm A trở xuống là vùng có áp lực nước lỗ rỗng giảm không đáng kể (coi như chưa có hoạt động cố kết xẩy ra).