CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về xúc tác quang và vật liệu T1O2 1.1 Tổng quan về xúc tác quang Chất xúc tác là chất có mặt trong phản ứng làm thay đổi tốc độ phản ứng. Như vậy chất xúc tác quang là vật liệu làm thay đổi tốc độ của một phản ứng hóa học khi tiếp xúc với ánh sáng. Mặt khác, chất xúc tác quang được hiểu như một chất nền khi hấp thụ ánh sáng và hoạt động như một chất xúc tác cho các phản ứng hóa học. Và hiện tượng này gọi là xúc tác quang [9], [10], Xúc tác quang là một hiện tượng, trong đó một cặp electron-lỗ trống được tạo ra khi chất bán dẫn tiếp xúc với ánh sáng.
Các phản ứng quang xúc tác có thể được phân loại thành hai loại dựa trên sự xuất hiện của trạng thái vật lý của chất phản ứng. Xúc tác quang đồng thể: Khi cả chất bán dẫn và chất phản ứng đều giống nhau pha, tức là khí, rắn hoặc lỏng, các phản ứng quang xúc tác như vậy được gọi là xúc tác quang đồng thể [9], [10]. Xúc tác quang dị thể: Khi cả chất bán dẫn và chất phản ứng khác nhau các pha, phản ứng quang xúc tác như vậy được phân loại là xúc tác quang dị thể. Sự khác biệt về năng lượng giữa vùng hóa trị (VB) và vùng dẫn (CB) được gọi là khoảng cách vùng cấm.
Trên cơ sở độ rộng vùng cấm, vật liệu được phân thành ba loại cơ bản (Hình 1.1) [10]: Chất cách điện: 5,0 eV Chất bán dẫn: 1,5 - 3,0 eV Kim loại và dây dẫn: 1,0 eV 6 Hình 1.1 Mô tả mức năng lượng vùng cấm qua ba loại vật liệu khác nhau [11] 1.2 Tồng quan về vật liệu T1O2 1.1 Khái quát Titan là nguyên tố phong phú thứ chín trong vỏ Trái Đất. T1O2 là hợp chất phổ biến nhất của titan, thường được sử dụng trong nhiều ứng dụng khác nhau, từ chống ăn mòn, lớp phủ tự làm sạch, sơn cho pin mặt trời và chất xúc tác quang [12]. Nghiên cứu sử dụng xúc tác quang hóa bán dan T1O2 bắt đầu từ thập kỷ 70 của thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu đã sử dụng hệ thống quang điện hóa và các hệ thống quang điện tử dùng để chuyển đổi năng lượng mặt trời thành hóa năng. Hiện nay, các ứng dụng của xúc tác quang hóa trong các lĩnh vực xử lý nước ô nhiễm, chuyển đổi năng lượng mặt trời thành hóa năng thông qua việc tách nước (tạo hydro) và khử CO2 thành hydrocacbon nhẹ đang thu hút nhiều nhà nghiên cứu [13].
T1O2 là chất bán dan (Semiconductor) rắn màu trắng, khi đun nóng có màu vàng khi làm lạnh thì trở lại màu trắng. Tinh thể T1O2 có độ cứng cao, khó nóng chảy (t=l 870°C). Hiện nay, chất bán dẫn điển hình và sử dụng phổ biến nhất cho quá trình quang xúc tác chính là T1O2. T1O2 là một chất bán dẫn băng thông rộng loại n và có ba pha tinh thể trong tự nhiên, anatase (tứ giác), rutile (tứ giác) và brookite (trực thoi).
Rutile T1O2 là dạng ổn định nhất, trong khi pha anatase và brookite có tính bền và có thể chuyển thành pha rutil khi nung ở nhiệt độ cao (~750°C) [14]. Anatase và rutile T1O2 thường được biết đến là chất xúc tác quang và một số kết quả nghiên cứu gần 7 đây đã chứng minh rằng một dạng hỗn hợp của mtile và anatase T1O2 thể hiện khả năng quang xúc tác cao, vì sự chuyển các điện tử từ anatase đến rutile năng lượng thấp hơn trong một hỗn hợp có thể làm giảm tốc độ tái kết hợp của các chất mang điện tích trong T1O2 anatase và tạo ra các vùng cực đại xúc tác một cách hiệu quả [15]. Các tinh thể cấu thành phổ biến của Tio2 là anatase và rutile, sự phối trộn hai loại tinh thế này theo tỉ lệ thích hợp sẽ tăng hoạt tính quang xúc tác của T1O2 lên nhiều lần cụ thể là 70:30 hoặc 80:20 trong sản phẩm thương mại phô biến hiện nay là T1O2- P25 Hình 1.2 Sản phâm TÌO2-P25 đã được thương mại hóa 7.22 Cấu trúc của T1O2 T1O2 có 04 bạn thù hình, trong đó 03 dạng tinh thể cơ bản là rutile, anatase, brookite và 01 dạng vô định hình. Rutile có mạng tinh thể tứ’ phương Anatase có mạng tmh thể tứ phương sai lệch Brookite có mạng tmh thể trục thoi Dạng vô định hình: Không bền 8 Dạng rutile Dạng anatase Dạng brookite Hình 1.3 Các dạng cấu trúc tinh thể của T1O2 [9] Các mạng lưới tinh thể của rutile, anatase và brookite khác nhau bởi sự thay đôi của mỗi hình tám mặt và cách gắn kết giữa các octahedra.
Hình tám mặt trong rutile là không đồng đều do đó có sự biến dạng orthorhombic (hệ trục thoi) yếu. Các octahedra của anatase bị biến dạng mạnh hơn, vì vậy mức đối xứng của hệ là thấp hơn hệ trực thoi. Khảng cách Ti-Ti trong anatase lớn hơn trong rutile nhưng khoảng cách Ti-0 trong anatase lại ngắn hơn so với rưtile. Trong cả ba dạng tinh thể thù hình của T1O2 các octahedra được nối với nhau qua đỉnh hoặc qua cạnh [13].1 Một số thông số kỹ thuật của anatase và rutile [16] Thông số vật lý Anatase Rutile Cấu trúc tinh thể Tứ phương (Tetragonal) Tứ phương (Tetragomal) Hằng đô mạng a-c (A°) 3,78-9,51 4,59-2,95 Khối lượng riêng 3,89 4,25 (g/cm3) Độ cứng Mohs 5,5-6,0 6,0-7,0 Chỉ số khúc xạ 2,52 2,71 Hằng số điện môi 31 114 Nhiệt dung riêng 12,96 13,20 (cal/mol.4 Hình mô tả khối bát diện của Tio2 [9] ỉ.3 Một số tính chất của TỈO2 Tính chất vật lý Tất cả các dạng tinh thể dỏ của T1O2 tồn tại trong tự nhiên như là khoáng nhưng chỉ có rutile và anatase ở dạng đơn tinh thể là được tổng hợp ở nhiệt độ thấp.
Hai pha này cũng được sử dụng trong thực tế làm Pigment (pigment trắng) chat màu, chat độn, chất xúc tác, -. Các pha khác (kể cả pha ở áp suất cao) chẳng hạn như brookite cũng quan trọng về mặt ứng dụng, tuy vậy brookite bị hạn chế bởi việc điếu chế brookite sạch không lẫn rutile và anatase là điều khó khăn. Mặt khác, do vật liệu màng mỏng và hạt nano Tio2 chỉ tồn tại ở dạng thù hình anasate và rutile; hơn nữa khả năng xúc tác quang của brookite hầu như không có [16]. Tính chat hóa học [17] T1O2 là họp chất khá trơ về mặt hóa học, có tính chất lưỡng tính.
Không tác dụng với nước, dung dịch loãng của axit (trừ HF) và kiềm. TiO2 tác dụng chậm với H2SO4 nồng độ cao khi đun nóng lâu và tác dụng với kiềm nóng chảy. Trong dung dịch H2SO4 đặc nóng thì: T1O2 + H2SO4 -> H2[TĨO(SO4)] + H2O (1-1) 10 Với kiềm nóng chảy thì tùy thuộc vào hàm lượng MOH sẽ tạo thành MxTiOỵ khác nhau: TiO2 + 2NaOH -» Na2TiO3 + H2O (1-2) Do tính axit yếu và bazo yếu của các titanat và titanyl nên chúng bị thủy phân mạnh trong nước: TÌOSO4 + 3H2O -» Ti(OH)4 + H2SO4 (1-3) Na2TiO3 + 3H2O -> Ti(OH)4 + 2NaOH (1-4) TiO2 tác dụng một số chất khác: TiO2 + 6HF —> H2TiF6 + 2H2O (1-5) TiO2 + NaHSO4 -> Ti(SO4)2 + Na2SO4 + 2H2O (1-6) 1.3 Nguyên lý phản ứng quang hóa Phản ứng quang hóa chỉ xảy ra khi có bức xạ ánh sáng với năng lượng ánh sáng đủ lớn sẽ phá vỡ liên kết hóa học trong chất phản ứng. Khi năng lượng ánh sáng bức xạ nhỏ hơn năng lượng liên kết hóa học, phản ứng quang hoá chỉ xảy ra khi có chất xúc tác quang.
Trong quá trình bức xạ quang, các chất xúc tác thường sinh ra các hạt có khả năng oxy hóa và khử mạnh. Các hạt bán dẫn có chứa trong một hệ xúc tác quang dị thể đóng vai trò xúc tác quang. Từ trạng thái này khơi mào cho các trạng thái tiếp theo như các phản ứng oxy hóa khử và biến đổi phân tử. Sự chênh lệch năng lượng giữa mức năng lượng thấp nhất của vùng dẫn (CB) và mức năng lượng cao nhất của vùng hóa trị (VB) được gọi là khe năng lượng vùng cấm Eg.
Nó tương đương vói năng lượng tối thiểu của ánh sáng cần làm cho vật liệu trở lên dẫn điện [16], [18]. Khi hạt bán dẫn được chiếu sáng bởi nguồn năng lượng hv lớn hơn năng lượng vùng cấm, thì các electron trong vùng hóa trị sẽ được kích thích và đủ năng lượng để nhảy lên một mức năng lượng cao hơn trong vùng dẫn. Kết quả trên vùng dẫn có các electron (e‘) mang điện tích âm và trên vùng hóa trị sẽ xuất hiện các lỗ trống mang điện tích dương (h+). Tuy nhiên, do mức năng lượng trong vùng hóa trị thấp hơn nên sau đó electron có khuynh hướng nhảy trở lại vùng hóa trị để kết hợp lại với lỗ trống, 11 cùng với việc giải phòng năng lượng ở dạng photon hoặc nhiệt năng hoặc có thể tham gia vào các phản ứng truyền điện tử (phản ứng oxy-hóa khử) với các chất trong dung dịch do mức năng lượng trong vùng hóa trị thấp [16], [18].
Để có thể kích hoạt chất xúc tác bán dẫn, bức xạ phải có bước sóng X bằng hay thấp hơn bước sóng tương ứng với Eg, được tính toán theo phương trình Planck: hr __ Trong đó: Eg: năng lượng vùng cấm; H: hằng số Planck; C: vận tốc ánh sáng Mặt khác, để các phản ứng oxy hóa xảy ra tên bề mặt bán dẫn, biên năng lượng vùng hóa trị VB của xúc tác bán dẫn phải có thế oxy hóa cao hơn oxy hóa của chất phản ứng trong điều kiện khảo sát. Thế oxy hóa khử của VB và CB của TiO2 tương ứng là +3,1 và -O,1V. Khi được chiếu sáng bởi ánh sánh có năng lượng bằng hoặc lớn hơn năng lượng vùng cấm (X < 387,5 nm), T1O2 sẽ hấp thụ các photon (hv) nên khi đó các điện tử e" trong vùng hóa trị sẽ bị kích thích và nhảy lên vùng dẫn, để lại một lỗ trống h+ có điện tích dương trong vùng hóa trị. Đồng thời, khi có sự hiện diện của chất hữu cơ được hấp phụ lên trên bề mặt của T1O2, tùy thuộc vào thế oxy hóa khử của chất phản ứng hấp phụ lên, trên bền mặt T1O2 xảy ra các quá trình truyền điện tử: T1O2 + hv TiO2 (e- + h+) (1-8) Cặp điện tử và lỗ trống sinh ra di chuyển đến bề mặt chất xúc tác, tại đó chúng phản ứng với nhóm hydroxyl bề mặt hoặc nước và oxy hòa tan để tạo thành các gốc hydroxyl, peroxyit và superoxit theo các phương trình [13].5 Phản ứng oxy hóa khử trên bề mặt T1O2 [19] Các gốc *OH có thế bị quang oxy hóa qua quá trình khử điện tử củaHCh* với điện tử CB.
Lỗ trống sinh ra có thê phản ứng với các ion oxy của mạng TÌO2 để tạo thành các gốc *OH.